vanban.org

Bản án 37/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ánh Ng.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Phi Th là vợ chồng. Về con chung: Anh Nguyễn Phi Th được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trần C T, sinh ngày 20/9/2002 và Nguyễn Trần T H, sinh ngày 27/8/2007, chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do anh Th không c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ánh Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 08/7/2020.
V/v “Tranh chấp về hôn nhân và
gia đình - xin ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Mai Hương

2. Ông Phạm Phước Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 08/7/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị Ánh Ng,

sinh năm 1981;

HKTT: tổ 4A, ấp 4, xã B H Tr, huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở hiện nay: ấp A L, xã A B A, thị xã H N, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

Nguyễn Phi Th,

sinh năm 1976;

Địa chỉ: tổ 4A, ấp 4, xã B H Tr, huyện C L, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn là chị Trần Thị Ánh Ng trình bày: Chị và anh Th chung sống với nhau năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, chị và anh Th đã ly thân khoảng 05 năm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phi Th.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần C T, sinh ngày 20/9/2002 và Nguyễn Trần T H, sinh ngày 27/8/2007, các con chung đang sống với anh Th. Khi ly hôn, chị Ng đồng ý để các con chung Nguyễn Trần C T và Nguyễn Trần T H cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Nguyễn Phi Th đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia phiên hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (photo).

- Giấy khai sinh (bản sao).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn yêu cầu của chị Trần Thị Ánh Ng về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phi Th, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con”.

Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - xin ly hôn, nuôi con giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã B H Tr, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Ng và anh Nguyễn Phi Th chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2001, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình sống chung chị Ng và anh Th không xây dựng được hạnh phúc gia đình, vợ chồng đã ly thân khoảng 05 năm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ng và anh Th đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Th là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, chị Ng và anh Th sống chung với nhau không đăng ký kết hôn, theo khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, không công nhận chị Ng và anh Th là vợ chồng.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần C T, sinh ngày 20/9/2002 và Nguyễn Trần T H, sinh ngày 27/8/2007, các con chung đang sống với anh Th. Khi ly hôn, chị Ng đồng ý để các con chung Nguyễn Trần C T và Nguyễn Trần T H cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi các con chung.

Xét thấy, con chung Nguyễn Trần C T và Nguyễn Trần T H đang sống với anh Th, để đảm bảo cuộc sống, học tập ổn định cũng như việc phát triển bình thường về thể chất và tinh thần cho cháu Tiên và Hiếu nên cần để cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu. Đồng thời, tại bản tự khai cháu Tiên và Hiếu cũng xác định khi cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của các cháu là được sống chung với anh Th. Do đó, việc anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung là phù hợp. Chị Ng không cấp dưỡng nuôi các con chung và anh Th cũng không có văn bản ý kiến hay yêu cầu gì về cấp dưỡng.

Chị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị Ng phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Ng đã nộp theo biên lai số 0003521 ngày 12/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, 9, 14, 51, 53, 56, 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Ánh Ng.

- Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Thị Ánh Ng và anh Nguyễn Phi Th là vợ chồng.

- Về con chung: Anh Nguyễn Phi Th được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Trần C T, sinh ngày 20/9/2002 và Nguyễn Trần T H, sinh ngày 27/8/2007, chị Ng không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do anh Th không có yêu cầu.

Chị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Ng phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Ng đã nộp theo biên lai số 0003521 ngày 12/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ