- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hải C - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123, iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, iểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; iểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, iểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HSST Ngày: 16-8 -2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
Bà Trần Thị Kim Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Thưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân Tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/HSST ngày 24/5/2019, theo Quy t ịnh ưa vụ án ra xét xử số 43/2019/HSST-QĐ ngày 01/ 8/2019 ối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hải C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 8 năm 1958; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Trình ộ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao ộng tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Đ – Đã mất; Con bà: Nguyễn Thị E– Đã mất; Anh, chị, em ruột: Có 5 người (bị cáo là con thứ năm trong gia ình); Vợ: Chu Thị H – Đã mất (là người bị hại trong vụ án); Con: 04 con (lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1991); Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 n nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên toà
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc A - Luật sư Công ty luật Mai S, thuộc oàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh; ịa chỉ số 379A, ường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh, ti hr Hà Tĩnh (có mặt)
* Bị hại: Bà Chu Thị H ( ã ch t)
Đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại: Anh Lê Văn M, sinh năm 1986, trú tại: Thôn N, xã C, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (theo văn bản họp gia ình ngày 11/4/2019), có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Lê Quỳnh T, sinh năm 1983, trú tại: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995, trú tại: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
3. Chị Lê Thị L, sinh năm 1991, trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)
4. Ông Phan Thanh C, sinh năm 1948, trú tại: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh(có mặt)
5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, trú tại: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)
6. Bà Lê Thị L, sinh năm 1950, trú tại: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh(có mặt)
7. Chị Lê Thị Hải Y, sinh năm 1988, trú tại: Thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hoà (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:
Lê Hải C, trú tại thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh k t hôn với bà Chu Thị H (sinh năm 1963), trú cùng thôn từ năm 1983. Quá trình sinh sống, Lê Hải C và bà H có với nhau 04 người con là Lê Quỳnh T (sinh năm 1983), Lê Văn M (sinh năm 1986), Lê Thị Hải Y (sinh năm 1988), Lê Thị L (sinh năm 1991). Vào năm 1999, bà Chu Thị H i xuất khẩu lao ộng ở Hàn Quốc, n năm 2002 bà H về nhà một thời ngắn sau ó ti p tục sang Hàn Quốc làm ăn, còn Lê Hải C thì ở nhà nuôi con. Đ n giữa tháng 01/2019, bà Chu Thị H về nước ể tổ chức ám cưới cho con trai Lê Văn M. Sau khi tổ chức ám cưới cho con trai xong bà H có ý ịnh không i lao ộng ở Hàn Quốc nữa mà ở nhà ể ưa con trai Lê Quỳnh T i chữa bệnh ở Hà Nội. Khoảng 18 giờ ngày 18/02/2019, bà Chu Thị H cùng với con trai Lê Quỳnh T, vợ chồng con trai Lê Văn Mi, Nguyễn Thị N và con gái Lê Thị L ăn cơm tối cùng nhau, còn Lê Hải C ngồi xem ti vi. Sau khi ăn cơm xong, vợ chồng anh M i sang nhà bố mẹ vợ chơi, T i sang nhà hàng xóm chơi rồi i về phòng ngủ ở tầng 2, còn Lê Thị L i về nhà. Đ n khoảng 20 giờ, Lê Hải C vào ăn cơm tối, còn bà H ngồi xem ti vi ở phòng khách. Sau ó, bà H i vào phòng ngủ của hai vợ chồng sát với chân cầu thang ở tầng 1 (phía bên phải theo hướng từ ngoài vào cửa). Đ n khoảng 22 giờ, Lê Hải C cũng i vào phòng ngủ với bà H.
Khoảng 01 giờ sáng ngày 19/02/2019, Lê Hải C tỉnh dậy thì thấy bà H vẫn nằm ngủ trên giường, nhưng ầu quay về hướng chân giường, chân hướng về phía ầu giường, còn mặt ngoảnh ra phía ngoài thành giường. Lúc này, Lê Hải C suy nghĩ việc bà H i Hàn Quốc lâu năm (gần 20 năm) mới về ược một thời gian ngắn nhưng lại muốn ưa con trai Lê Quỳnh T i chữa bệnh ở Hà Nội và muốn i vào Nha Trang chơi với con gái là Lê Thị Hải Y, mà không quan tâm, chăm sóc C. Lê Hải C nghĩ rằng bà H vì không muốn ở nhà với C nên ã lấy lý do ó ể i Nha Trang ở với con gái Lê Thị Hải Y hoặc ti p tục i Hàn Quốc nên C bức xúc và nảy sinh ý ịnh gi t ch t bà H rồi tự tử. Sau ó, Lê Hải C i ra khu vực phía sau nhà b p lấy 02 con dao của gia ình ược ể ở giá ựng bát ũa, gồm 01 con dao nhỏ, mũi nhọn và 01 con dao to, mũi tày, Châu cầm 02 con dao trên tay phải rồi quay lại phòng ngủ của vợ chồng, lúc này phía trên tầng 2 của gia ình vợ chồng Lê Văn M và con trai Lê Quỳnh T vẫn ang ngủ. Khi i vào phòng ngủ, thấy bà H vẫn ang ngủ say, C liền ặt con dao to xuống giường, rồi tay phải cầm con dao nhỏ cắt 01 nhát mạnh, dứt khoát vào vùng cổ bên phải của bà H. Sau ó, Lê Hải C ặt con dao nhỏ xuống giường và ti p tục cầm con dao to trên tay phải chém nhiều nhát vào vùng tay, bả vai và một vị trí khác trên người bà H. Sau khi dùng dao chém vợ xong, Lê Hải C cầm ống quần bà H kéo mạnh ể kiểm tra xem bà H ã ch t hay chưa, làm ống quần ngoài và quần lót bên trái của bà H bị tuột ra khỏi chân, thấy bà H không có phản ứng gì nên Châu nghĩ bà H ã ch t. Sau ó, Lê Hải C cầm 02 con dao i ra ngoài, C ể con dao nhỏ trên máy giặt gần gi ng và con dao to ể trên bờ thềm gần vị trí lấy dao. Sau khi cất dao xong, Lê Hải C mở cổng i ra biển xã C ề tự tử nhưng ược anh Nguyễn Văn T, trú tại thôn L, xã X, huyện N phát hiện và ưa vào bờ. Đ n khoảng 14 giờ cùng ngày, Lê Hải C n Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh ầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
- Tại biên bản khám nghiệm tử thi Chu Thị H, trú tại xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh lập vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 19/02/2019 phản ánh: Các dấu v t, tổn thương trên cơ thể: Vùng cổ bên phải có v t thương dài 10 cm, bờ mép sắc gọn, sâu n xương cổ; vùng má trái có v t thương ứt quãng dài 11cm, làm ứt vành tai trái, bờ mép gọn; vùng má trái có 02 v t xươc da, chồng chéo nhau, v t thứ nhất dài 4,5cm, v t thứ hai dài 5cm; mặt ngoài bả vai trái có 02 v t xước da cách nhau 09cm, v t thứ nhất dài 04cm, v t thứ hai dài 08cm; mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái có v t xây xát da trên diện 07cm x 03cm; mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay phải có v t thương, kích thước 09cmx 04cm, bờ mép sắc gọn, sâu tận xương cánh tay; mặt ngoài cổ tay và mu bàn tay phải có v t thương, kích thước 13cmx 02cm, sậu tận xương.
- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh lập vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 19/02/2019 phản ánh: Hiện trường vụ án ược xác ịnh tại nhà bà Chu Thị H, thuộc thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Tại tầng 1 của ngôi nhà gồm 01 phòng ngủ, một phòng khách và khu vực b p. Phòng ngủ có kích thước 2,95mx3,1m, có cửa gỗ một cánh mở vào trong, kích thước 2,03mx0,73m. Trong phòng ngủ có ặt một chi c giường gỗ, kích thước 1,7mx2,1m, màn ở trạng thái buông, trên màn có nhiều dấu v t màu ỏ (nghi máu), dạng phun, chùi quệt, chăn gối trên gường lộn xộn, dính nhiều máu, v t màu ỏ (nghi máu), trên ga trải giường có dấu v t màu ỏ dạng thấm, kích thước 1,1mx0,4m. Tử thi Chu Thị H ược phát hiện trên giường trong tư th nằm ngửa, ầu ở hướng Tây Nam, chân ở hướng Đông Bắc, trên tử thi dính nhiều dấu v t màu nâu ỏ (nghi máu) – vị trí số 1; Cánh cửa ra vào phòng ngủ 0,65m về phía Tây Bắc, cách mép tường phái Đông Bắc 0,72m trên nền nhà phát hiện dấu v t màu ỏ (nghi máu) dạng chùi quệt, kích thước 0,72x0,6 (m) – vị trí số 2; Trên tường phía Tây Nam có dấu v t màu ỏ dạng bắn, kích thước 1mx1,5m. Tại tường phía Tây Bắc một cửa sổ khung sắt, kích thước 0,72x0,94 (m), tại ô cửa sổ này phát hiện một chi c iện thoại di ộng màu hồng, nhãn hiệu Sam Sung, ốp lưng iện thoại màu en.
Kiểm tra phòng khách và khu vực b p ồ ạc, vật dụng bình thường. Tại khu vực b p có một lối i thông ra khu vực gi ng, góc phía Tây khu vực gi ng có ặt một chi c máy giặt, trên máy giặt cách tường phía Tây Nam 0,3m, cách tường phía Đông Nam 0,46m, phát hiện một con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 16,3cm, chỗ rộng nhất của lưỡi là 5cm, cán dao bằng gỗ. Trên lưỡi dao phát hiện dấu v t màu nâu (nghi máu) – vị trí số 3; Cách vị trí số 3 về phía Đông Bắc 2,5m, cách tường nhà phía Đông Nam 7cm về hướng Đông Nam, trên nền gi ng phát hiện một con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 9,5cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao dính nhiều dấu v t màu nâu (nghi máu)- vị trí số 4. Ti n hành khám nghiệm khu vực trên tầng 2 của ngôi nhà không phát hiện dấu v t gì. Tại hiện trường Cơ quan iều tra ã thu giữ: 01 (một) dấu v t màu ỏ (nghi máu) trên ga trải giường; 01 (một) dấu v t màu ỏ (nghi máu) trên nền nhà; 01 (một) chi c iện thoại di ộng trong phòng ngủ; 02 (hai) con dao, trên lưỡi dao dính nhiều dấu v t màu nâu (nghi máu).
- Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 57/PC09 ngày 20/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Trên cơ thể bà Chu Thị H có nhiều v t thương, trong ó v t thương vùng cổ bên phải làm ứt toàn bộ cơ ức òn chủm bên phải, ứt ộng mạch và tĩnh mạch gốc bên phải. Nguyên nhân ch t của bà Chu Thị H – mất máu cấp.
- Tại bản kết luận giám định số 07/GĐVS/PC09 ngày 25/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Dấu v t màu nâu dính trên con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dài 05cm, chiều dài lưỡi dao 16,3cm, cán dao bằng gỗ - ký hiệu A1; Dâu v t màu nâu dính trên con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dào 9,5cm, cán dao bằng gỗ - ký hiệu A2; Mẫu máu của nạn nhân Chu Thị H – ký hiệu M. Các dấu v t màu nâu dính trên các mẫu vật ký hiệu A1, A2 gửi tới giám ịnh là máu người, thuộc nhóm máu B, cùng nhóm máu với mẫu máu của nạn nhân Chu Thị H, ký hiệu M.
* Vật chứng của vụ án: Quá trình iều tra ã thu giữ và nhập kho các vật chứng:
- 01 (một) con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 16,3cm, chỗ rộng nhất lưỡi dao là 05cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng.
- 01 (một) con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng.
Ngoài ra, Cơ quan iều tra ã thu giữ 01 chi c iện thoại di ộng nhãn hiệu Sam Sung A5, màu hồng, số IMEI 35490808261498, máy ã qua sử dụng – Quá trình iều tra xác ịnh chi c iện thoại này không liên quan n vụ án nên Cơ quan iều tra ã trả lại cho anh Lê Văn M (con trai người bị hại Chu Thị H).
Với hành vi trên, tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS-P2, ngày 23 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ã truy tố Lê Hải C về tội “Gi t người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, ánh giá các tình ti t của vụ án ã ề nghị Hội ồng xét xử áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123, iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hải C từ 16 n 18 năm tù.
Về vật chứng: Căn cứ iểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tụng hình sự
tịch thu tiêu:
+ 01 (một) con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 16,3cm, chỗ rộng nhất lưỡi dao là 05cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng;
+ 01 (một) con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng.
Bị cáo Lê Hải C và Luật sư Nguyễn Ngọc A ề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người ại diện của bị hại (anh Lê Văn M) ề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về dân sự, ại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa. Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quy t ịnh của Cơ quan cảnh sát iều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, iều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình iều tra, truy tố ã thực hiện và tuân thủ úng thẩm quyền ược quy ịnh tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, ại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý ki n, hay khi u nại gì về hành vi, quy t ịnh của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do ó các hành vi, quy t ịnh tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng ã thực hiện ều hợp pháp.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, ại diện bị hại, người làm chứng trong quá trình iều tra, các chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng, k t luận giám ịnh, thông qua quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội ồng xét xử có ủ cơ sở ể khẳng ịnh: Đêm 18/02/2019 Lê Hải C (chồng bà Chu Thị H) do bức xúc về việc bà Hà i xuất khẩu lao ộng Hàn Quốc lâu năm mới về nhà nhưng không quan tâm, chăm sóc C, với suy nghĩ bà H có ý ịnh i nước ngoài ti p nên Lê Hải C nảy sinh ý ịnh gi t bà H, rồi tự tử. Khoảng 01 giờ ngày 19/02/2019, tại nhà riêng trong lúc bà Chu Thị H ang ngủ trong phòng ngủ của vợ chồng thì Lê Hải C ã dùng 02 con dao vẫn thường dùng sinh hoạt hằng ngày của gia ình cắt vào cổ và chém nhiều nhát vào người bà Chu Thị H. Hậu quả, bà Chu Thị H bị tử vong do mất máu cấp.
Nguyên nhân của vụ án xuất phát từ việc cho rằng vợ không quan tâm, chăm sóc ối với mình và suy nghĩ bà Hà có ý ịnh i nước ngoài ti p, Lê Hải C ã dùng dao cắt cổ và chém nhiều nhát vào người làm bà Chu Thị H tử vong. Hành vi của Lê Hải C thể hiện tính côn ồ, hung hãn, coi thường tính mạng của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong iều kiện ủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội do lỗi cố ý. Bị cáo phải nhận thức ược việc sử dụng dao là hung khí nguy hiểm ể cắt vào cổ là nơi trọng y u trên cơ thể con người có thể dẫn n ch t người nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện dẫn n hậu quả làm bà H tử vong. Hành vi của bị cáo ã ủ y u tố cấu thành tội “Gi t người” với tình ti t ịnh khung “Có tính chất côn đồ” quy ịnh tại iểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát ã nêu là có căn cứ, úng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hải C là ặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những ã tước bỏ quyền sống của bà Hà, chính là vợ của bị cáo, gây nên sự au thương mất mát cho những người thân của bị hại mà còn gây sự bất bình và hoang mang trong xã hội. Điều này thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác ược pháp luật bảo vệ.
Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng quá trình iều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội ã n Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện N ầu thú, tại phiên toà anh Lê Văn M - Người ại diện cho bị hại Chu Thị H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có anh ruột là Lê Q là Liệt sỹ, ây là các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, dù bị cáo có ược hưởng tình ti t giảm nhẹ n âu thì việc xử bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo ã gây ra là rất cần thi t. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung ối với xã hội.
Trên cớ sở tính chất hành vi phạm tội, Hội ồng xét xử xét thấy mức hình phạt vị ại diện Viện kiểm sát ề nghị xử phạt bị cáo từ 16 n 18 năm tù là nhẹ, chưa ảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, do ó cần xét xử bị cáo mức hình phạt cao hơn ề nghị của ại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ Điều 109, 113, 119 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự cần ti p tục tạm giam bị cáo Lê Hải C ể ảm bảo cho công tác thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, gia ình bị hại ã cử anh Lê Văn M làm người ại diện cho bị hại Chu Thị H. Qúa trình giải quy t vụ án và tại phiên toà ại diện gia ình bị hại không yêu cầu Lê Hải C bồi thường về mặt dân sự, nên Hội ồng xét xử miễn xét.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy cần xử lý các vật chứng liên quan n vụ án do cơ quan iều tra thu giữ trong quá trình iều tra như sau:
Đối với 02 con dao bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội gồm: 01 (một) con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 16,3cm, chỗ rộng nhất lưỡi dao là 05cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng; 01 (một) con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng. Xét thấy ây là công cụ bị cáo sử dụng ể thực hiện hành vi phạm tội, hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, iểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy ịnh về án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Lê Hải C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng iểm n khoản 1 Điều 123, iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, iểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; iểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, iểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội khóa 14 quy ịnh về án phí, lệ phí tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Hải C phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Lê Hải C 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ( ngày 19/02/2019 ).
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, gồm:
+ 01 (một) con dao dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng,
dài 16,3cm, chỗ rộng nhất lưỡi dao là 05cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng;
+ 01 (một) con dao dài 32cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, dài 18,5cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao dài 9,5cm, cán dao bằng gỗ, trên lưỡi dao có dính chất màu nâu (nghi máu), dao ã qua sử dụng.
Tình trạng cụ thể các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hải C phải chịu 200.000 ồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PV27 Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC44 Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THA.DS tỉnh Hà Tĩnh; - Thi hành án hình sự TAND tỉnh; - Bị cáo; ại diện bị hại; - Phòng LLTP Sở Tư pháp; - Lưu HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Đức Quang |