vanban.org

Bản án 37/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 23/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 50; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc R bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc R phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2019/HS-ST

Ngày: 23/05/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên. Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Tĩnh. 2/ Ông Nguyễn Văn Sở. - Thư ký phiên tòa: Bà Mai Yến Khanh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi, Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc R; sinh năm 1981 tại An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: không đăng ký thường trú và không nơi ở cố định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H (sống) và bà Phạm Thị L (sống); có vợ tên Lê Thị H (đã ly hôn) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền sự: không;

Tiền án: - Ngày 22/11/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. - Ngày 23/01/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. - Ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nhân thân: - Năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Năm 2004 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. - Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/02/2019 cho đến nay. Có mặt. - Người bị hại: Ông Phạm T; sinh năm: 1962; nơi cư trú: đường Huỳnh Thị M, phường H, thành phố T, tỉnh Long An. Vắng mặt. - Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 09/01/2019 bị cáo Nguyễn Ngọc R đến khu vực Rạp hát Long An tại phường H, thành phố T, tỉnh Long An để uống rượu với nhóm bạn. Trong lúc ngồi uống rượu có ông Phạm T đến. Do có quen biết với nhau, nên bị cáo R rủ ông T vào uống rượu chung. Sau khi uống rượu xong, ông T rủ thêm 01 người tên là B (nhà ở phường 3, thành phố Tân An) cùng với bị cáo R về nhà ông T uống rượu tiếp. Trong lúc ngồi uống rượu tại nhà ông T, bị cáo R nhìn thấy chìa khóa xe mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ bạc vàng, biển số 62B1-446.52 để dưới nền nhà và xe đang dựng trước ngõ. Lúc này, bị cáo R dùng tay đùa chiếc

chìa khóa vào giấu dưới tấm nệm lót trên sàn nhà rồi tiếp tục uống rượu. Khi uống rượu xong, ông T đi ngủ trước, còn bị cáo R và ông B rủ nhau đi đến nơi khác để uống rượu tiếp. Khi đến Cầu Đúc, thành phố Tân An, tỉnh Long An, ông B bỏ về, còn bị cáo R quay trở lại nhà ông T để xin ngủ nhờ. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 10/01/2019 bị cáo R thức dậy trước, nhìn thấy ông T còn ngủ, bị cáo R lén lút đến tấm nệm, lấy chìa khóa xe rồi nổ máy tẩu thoát. Sau khi trộm xe, bị cáo R sử dụng tài sản trên làm phương tiện đi lại. Đến ngày 19/02/2019, khi bị cáo R điều khiển xe mô tô biển số 62B1-446.52 về nhà cha ruột là ông Nguyễn Ngọc H tại địa chỉ ấp C, xã M, huyện B, tỉnh Tiền Giang thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra mời làm việc. Qua quá trình điều tra, bị cáo R đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 16/KL-HĐĐG ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Tân An, tỉnh Long An kết luận: 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ bạc vàng, biển số 62B1-446.52 có giá trị là 6.600.000 đồng, thuộc sở hữu của ôngPhạm T. Ngày 11/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân An, tỉnh Long An đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. Về bồi thường thiệt hại: Ông Phạm T đã nhận lại 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ bạc vàng biển số 62B1-446.52 và không yêu cầu gì thêm. Tại cáo trạng số 36/CT-VKSTA-HS ngày 16/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc R về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc R đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSTA-HS ngày 16/4/2019. Cụ thể: Truy tố: Về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc R phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 50; Điểm h khoản 1, Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc R từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo Nguyễn Ngọc R phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, bị cáo biết lỗi và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận về việc định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với nhau, không có mâu thuẫn. Qua lời khai nhận hành vi của bị cáo cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua việc thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo được xét hỏi tại phiên toà đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo như sau: Vào khoảng 04 giờ ngày 10/01/2019 tại địa chỉ số đường Huỳnh Thị M, phường H, thành phố Tân An, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Ngọc R đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ bạc vàng, biển số 62B1- 446.52 có giá trị là 6.600.000đ thuộc sở hữu của ông Phạm T. Với hành vi lén lút của bị cáo Nguyễn Ngọc R và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý nên hành vi vi phạm của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời qua phân tích, đánh giá nhận định của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn làm căn cứ chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc R theo khỏan 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và hoàn toàn chính xác đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi trái pháp luật do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Xuất

phát từ việc xem thường pháp luật, bị cáo có đủ sức khoẻ lao động phục vụ bản thân, lo cho gia đình và đóng góp cho xã hội nhưng lại không chịu lao động mà muốn có tài sản để sử dụng theo sự ham muốn cá nhân của mình, nên thúc đẩy và đưa bị cáo vào đường phạm tội. Trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật quy định bảo vệ. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần phải xác định đến tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm khắc theo quy định của pháp luật, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt mới có đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu vì đã nhiều lần bị Tòa án nhân dân xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản mặc dù đã hết thời gian bị coi là có tiền án, nhưng bị cáo không chịu sửa chữa khắc phục mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thế nên, đối với bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt. [4] Về bồi thường thiệt hại: Tài sản bị chiếm đoạt được thu hồi và giao trả lại cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xét. [5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc R phạm tội “Trộm cắp tài sản”. [1] Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 50; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc R 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2019.

Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc R với thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án. [2] Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Ngọc R phải có nghĩa vụ chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ