- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đồng Thị N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 37/2019/HS-ST. Ngày: 15/03/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Bùi Minh Ngọc.
2. Bà: Nguyễn Thị Ngọc Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Quang Hùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Đồng Thị N; Sinh năm: 1996; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Ấp Vĩnh T, xã Vĩnh K, huyện Thoại S, tỉnh An G; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đồng Văn M – sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1954; Anh em ruột: 05 người, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2018 đến 09/01/2019; Chồng: Phạm Văn Hôn E; Con: 05 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; Hiện bị cáo tại ngoại tại địa chỉ trên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Nguyễn Kim H – Sinh năm 1998. (Vắng mặt)
Trú tại: Số 9/4/6 Nhật T, phường An B, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G.
* Người làm chứng:
- Bà Châu X – Sinh năm 1988. (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ 1, ấp 1, xã Hòn T, huyện Kiên H, tỉnh Kiên G.
- Ông Hồng Minh P – Sinh năm 1998. (Vắng mặt)
Trú tại: 392/3A Trần Khánh D, phường An H, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đồng Thị N là người đã từng đến thành phố Rạch Giá nhiều lần và N biết được ở thành phố Rạch Giá hay tổ chức lễ hội ở Trung tâm sinh hoạt cộng đồng thành phố Rạch Giá (thường gọi là Quảng trường Trần Quang Khải) thuộc khu phố 5, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nhân những ngày lễ và sự kiện trọng đại của đất nước. Vào ngày 15/12/2018, N biết thành phố Rạch Giá có tổ chức truyền hình trực tiếp trận đấu bóng đá chung kết giải vô địch Đông Nam Á giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Malaysia cho người dân đến xem nên N nảy sinh ý định đến thành phố Rạch Giá, trà trộn vào đám đông để cướp giật tài sản, bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 16 giờ ngày 15/12/2018, N đi xe ôm từ thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đến thành phố Rạch Giá. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N đi bộ đến Trung tâm sinh hoạt cộng đồng thành phố Rạch Giá thì thấy rất nhiều người đang tập trung ở đây để xem bóng đá nên N trà trộn vào đám đông tìm người có tài sản sơ hở để thực hiện hành vi chiếm đoạt. N quan sát thấy chị Nguyễn Kim H đang ngồi trên yên xe mô tô cùng chồng là anh Châu X (X ngồi phía trước, H ngồi phía sau) xem bóng đá, N phát hiện trên cổ chị H có đeo một sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu 02 sợi dây xoắn lại với nhau và có mặt dây chuyền hình chữ H. N quan sát thấy chị H đang tập trung xem bóng đá qua màn hình Tivi nên N tiếp cận chị H và dùng tay trái giật mạnh sợi dây chuyền của chị H làm cho sợi dây chuyền chỉ bị giãn ra, chưa đứt nhưng mặt dây chuyền thì bị đứt, rơi xuống đất. Ny lúc đó anh Châu X nhìn qua gương chiếu hậu của xe mô tô thì thấy N là người trực tiếp dùng tay giật sợi dây chuyền của chị H nên anh Châu X quay người lại dùng tay chụp tay N lại, không cho N tiếp tục giật sợi dây chuyền của chị H và tẩu thoát. Sau đó, anh Châu X đưa N đến Công an phường An Hòa, thành phố Rạch Giá trình báo sự việc. Tại công an phường An Hòa, Đồng Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản là sợi dây chuyền của chị H.
Đến ngày 24/12/2018 Đồng Thị N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố tạm giam để điều tra.
* Việc thu giữ vật chứng:
- 01 (một) Sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng – màu trắng, dạng 02 sợi dây xoắn đan xen nhau, tình trạng dây đã bị giãn, phần khoen cài bị hư hỏng không còn khả năng gài chốt.
- 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, hình chữ “H” có đính hột màu trắng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 268/KL-TCKH, ngày 21/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá, kết luận:
- 01 (một) Sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng – màu trắng, dạng 02 sợi dây xoắn lại với nhau, loại vàng 18K, trọng lượng 2,09 chỉ đã qua sử dụng, có giá trị 5.310.272 đồng (năm triệu, ba trăm mười ngàn hai trăm bảy mươi hai đồng).
- 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, hình chữ “H” loại vàng 18K, trọng lượng 0,36 chỉ đã qua sử dụng, có giá trị là 914.688 đồng (chín trăm mười bốn ngàn sáu trăm tám mươi tám đồng).
Tổng cộng 6.224.960 đồng (Sáu triệu, hai trăm hai mươi bốn ngàn chín trăm sáu mươi đồng).
* Về xử lý vật chứng: Đã trao trả cho bà Nguyễn Kim H 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng – màu trắng, dạng 02 sợi dây xoắn đan xen vào nhau, tình trạng dây đã bị giãn, phần khoen cài bị hư hỏng không còn khả năng gài chốt và 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, hình chữ “H” có đính hột màu trắng.
* Về phần dân sự: Bà Nguyễn Kim H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
* Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTPRG ngày 30-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố Đồng Thị N về tội: Cướp giật tài sản quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đồng Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Thị N phạm tội “Cướp giật tài sản”;
- Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 171 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Đồng Thị N - mức án từ 01(Một) năm đến 01(Một) năm 06(Sáu) tháng tù về tội cướp giật tài sản.
- Người bị hại bà Nguyễn Kim H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 19 giờ, ngày 15/12/2018, tại trung tâm sinh hoạt cộng đồng thành phố Rạch Giá, thuộc khu phố 5, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đồng Thị N dùng tay giật 01 sợi dây chuyền có mặt hình chữ H của bà Nguyễn Kim H, qua giám định là vàng 18K, trọng lượng 2,45 chỉ, trị giá 6.224.960 đồng thì bị ông Châu X là chồng của bà H bắt quả tang N cùng vật chứng. Đến ngày 24/12/2018 Đồng Thị N bị Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố, tạm giam để điều tra.
Hành vi trên của bị cáo Đồng Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Đồng Thị N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại thực hiện hành vi cướp giật và chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa pH, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bị cáo thực hiện tội phạm thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo N khi lượng hình.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo N không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 171 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Kim H đã được nhận lại tài sản bị cướp giật và không yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 171 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Đồng Thị N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Đồng Thị N mức án 12 (Mười hai) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2018 đến 09/01/2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Kim H đã được nhận lại tài sản bị cướp giật và không yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đồng Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Kiên Giang - VKSND thành Phố Rạch Giá - Cơ quan THA Dân sự TP.Rạch Giá - Công an thành Phố Rạch Giá - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang - Bị cáo - Lưu . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Loan |