- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành K phạm tội "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HS-ST Ngày: 21-6-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Phước Định.
2. Ông Hồ Xuân Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2019/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành K, sinh ngày: 20/7/1991 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành B (đã chết) và bà Đinh Thị L; Có vợ là Dương Thị Minh H và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ ngày 11/11/2018, Nguyễn Thành K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73C – 05055 của anh Đinh Như Q (trú tại xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình) chở mẹ là bà Đinh Thị L đưa gà đến chợ phiên huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị và một số xã trên địa bàn huyện Hướng Hóa để bán. Khi đến cầu Mỹ Yên thuộc xã Tân Long, huyện Hướng Hóa thì để bà L xuống mua chuối, còn K điều khiển xe đến chợ Lao Bảo giao hết 02 lồng gà còn lại. Khi đang dừng xe trước cổng chợ thì có một người phụ nữ (không xác định được lai lịch) đến đặt vấn đề thuê và K đồng ý nhận vận chuyển pháo về huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình sẽ trả 3.000.000đồng tiền công. Sau đó, người phụ nữ này lên xe của K rồi chỉ dẫn đi vào đường liên khóm Xuân Phước khoảng 02 km thì yêu cầu dừng xe lại. Đợi khoảng 10 phút thì có 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát (không xác định được lai lịch) chở đến 05 két giấy cát tông bên trong có 90 hộp pháo thì người phụ nữ xuống xe và bốc pháo lên xe của K. K dùng số lồng gà trống trên thùng xe đậy pháo lại rồi một mình điều khiển xe về đến cầu Mỹ Yên, xã Tân Long để đón bà L thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lao Bảo phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 23/KLGĐ - PC09 ngày 20/11/2018 của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mẫu vật được niêm phong gửi đến giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 12.1kg và Kết luận giám định số 150/KLGĐ - PC09 ngày 16/01/2019 của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong 05 (năm) thùng giấy các tông gửi đến giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 97.9kg.
Hoàn lại đối tượng sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có ký hiệu PGD01, bên trong có 08 hộp pháo, bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 9.6kg và 05 thùng giấy được niêm phong có ký hiệu lần lượt là 01, 02, 03, 04, 05 bên trong có 75 hộp pháo bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 91.7kg có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị”.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Trị nêu trên.
Bản Cáo trạng số 36/CT – VKSHH ngày 17/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành K về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 3 Điều 35 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K mức hình phạt tiền từ 60.000.000đồng – 80.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tiêu hủy số lượng pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có ký hiệu PGD01, bên trong có 08 hộp pháo, bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 9.6kg và 05 thùng giấy được niêm phong có ký hiệu lần lượt là 01, 02, 03, 04, 05 bên trong có 75 hộp pháo bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 91.7kg có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị”.
Và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản vi phạm hành chính, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Ngày 11/11/2018, Nguyễn Thành K đã có hành vi vận chuyển 90 hộp pháo, bên ngoài mỗi vỏ hộp có hoa văn nhiều màu và ký hiệu A8503(A0398), bên trong mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn liên kết với nhau là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ với tổng khối lượng là 110kg từ thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa về huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình cho một người phụ nữ (không xác định được lai lịch) để lấy tiền công.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vận chuyển 110kg pháo nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hoá là pháo nổ thuộc hàng cấm. vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội“Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định khung tăng nặng “Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và có ông nội là Nguyễn Thành Chuyên được Nhà nước tặng thưởng Huân chương hạng nhất. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo “thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 khaorn 2 Điều 51 và cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhấp nhất của khung hình phạt. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ trừng trị, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là phù hợp, có căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Số lượng pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có ký hiệu PGD01, bên trong có 08 hộp pháo, bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 9.6kg và 05 thùng giấy được niêm phong có ký hiệu lần lượt là 01, 02, 03, 04, 05 bên trong có 75 hộp pháo bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 91.7kg có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị” là hàng cấm nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tịch thu, tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra đã thu giữ và trả lại 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA màu trắng; số máy JT615496; số khung RNYKCB27TBC082920 biển số 73C – 050.55 xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là anh Đinh Như Q (anh Đinh Như Q không biết bị cáo sử dụng xe ô tô vào việc phạm tội) theo Quyết định xử lý vật chứng số 14/QĐ ngày 12/3/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa là có căn cứ.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự 2015;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành K phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K 70.000.000đồng (bảy mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Tiêu hủy số lượng pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy các tông có ký hiệu PGD01, bên trong có 08 hộp pháo, bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 9.6kg và 05 thùng giấy được niêm phong có ký hiệu lần lượt là 01, 02, 03, 04, 05 bên trong có 75 hộp pháo bên ngoài vỏ có ký hiệu A8503(A0398), có khối lượng 91.7kg có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị”. Vật chứng hiện đang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa quản lý theo Biên bản làm việc về giao vật chứng ngày 28/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/6/2019).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện H.Hóa; - Cơ quan CSĐT Công an H.Hóa; - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Chi cục THADS huyện H.Hóa; - Cơ quan THAHS huyện H.Hóa; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Văn Phƣơng |