- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Huỳnh Thị Ánh T khởi kiện ông Nguyễn Xuân P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ánh T đối với ông Nguyễn Xuân P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Miện
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Gấm – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 274/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ánh T, sinh năm 1983; (có mặt)
Địa chỉ: Phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1980; (vắng mặt 02 lần không lý do)
Địa chỉ: Phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ánh T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Xuân P tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang vào ngày 14-5-2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống trái ngược nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ. Ngoài ra ông P không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn để phụ giúp kinh tế cho vợ con mà để một mình bà phải gánh vác toàn bộ kinh tế trong gia đình. Bà đã nhiều khuyên bảo nhưng ông P không chịu thay đổi mà còn gây sự với bà. Từ đầu năm 2018 mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Xuân P.
Về con chung: Bà và ông P có 02 con chung là Nguyễn Xuân N, sinh ngày 06-8-2008 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 23-9-2014. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân P mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Bà Huỳnh Thị Ánh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Xuân P có địa chỉ cư trú tại thành phố Vũng Tàu. Căn cứ Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Xuân P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P là phù hợp quy định pháp luật.
. Về nội dung:
Bà Huỳnh Thị Ánh T và ông Nguyễn Xuân P tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông P thì thấy: Theo bà T thì nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống trái ngược nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ. Ngoài ra ông P không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn để phụ giúp kinh tế cho vợ con mà để một mình bà phải gánh vác toàn bộ kinh tế trong gia đình. Từ đầu năm 2018 mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau, không còn quan hệ vợ chồng.
Theo xác minh tại địa phương thì bà T và ông P có xảy ra mâu thuẫn, một số lần cãi vã to tiếng với nhau nhưng nguyên nhân cụ thể thì đại diện địa phương không nắm rõ.
Tại phiên tòa, bà T xác định không còn tình nghĩa vợ chồng đối với ông P, hai bên tuy sống chung nhà nhưng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau.
Xét thấy, mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông P là có thật, vợ chồng cũng nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không có khả năng hàn gắn tình cảm. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ánh T và ông Nguyễn Xuân P có 02 (hai) con chung là Nguyễn Xuân N, sinh ngày 06-8-2008 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 23-9-2014. Do cháu P còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ, cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ vả lại bà T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung nên việc giao cháu N và cháu P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Ánh T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ánh T đối với ông Nguyễn Xuân P.
1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ánh T ly hôn với ông Nguyễn Xuân P.
2. Về con chung: Bà T và ông P có 02 (hai) con chung là Nguyễn Xuân N, sinh ngày 06-8-2008 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 23-9-2014. Bà Huỳnh Thị Ánh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Xuân N và cháu Nguyễn Gia P. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Ánh T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007721 ngày 26-3-2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Vũng Tàu; - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp. Vũng Tàu; - Các đương sự; - UBND xã K, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Dương Thị Hương |