- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị Th - Nguyễn Đình N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Đình N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2019 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thiện Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Tuế;
2. Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về việc ly hôn,tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị Th, sinh năm: 1989.
Nơi ĐKHKTT: Xóm QT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Xóm BG, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(có mặt tại phiên tòa).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình N, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Xóm QT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Th trình bày:
Chị và anh Nam kết hôn với nhau vào ngày 12/11/2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Việc kết hôn của anh, chị là hoàn toàn tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh N làm dâu và chung sống cùng gia đình nhà chồng được một thời gian thì bố mẹ chồng cho ra ở riêng trên đất của bố mẹ chồng cho cạnh nhà bố mẹ chồng. Những năm đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong ăn ở sinh hoạt và nuôi dạy con cái, anh N hay chơi bời, uống rượu, không chịu làm ăn, kinh tế gia đình do một mình chị gánh vác, chị góp ý, khuyên can, cho anh Nam cơ hội để sửa chữa nhưng anh N không thay đổi được tính tình, nếp sống, như trước đây. Đến tháng 12/2016 do mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng, liên tục sảy ra cãi vã, xúc phạm và nhiều lần sẩy ra xô xát, chị cùng con gái là cháu Nguyễn Thị Như Q đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay không hỏi thăm, liên lạc gì với nhau. Anh N đi làm ăn thỉnh thoảng mới về nhà bố mẹ đẻ nhưng vợ chồng cũng không gặp nhau. Trong đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị cương quyết xin ly hôn anh N.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 24/8/2008 đang học lớp 6 và Nguyễn Đình Q, sinh ngày 30/3/2013, đang học lớp 1, hiện nay cả hai con đang ở với chị. Ly hôn chị xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh N phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung: Chị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng: Chị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Nguyễn Đình N:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay anh N vắng mặt, Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị B là mẹ đẻ của anh N thì được bà cho biết bà có tổ chức lễ cưới cho anh N, chị Th vào tháng 11/2007, cuộc sống vợ chồng có thời gian hạnh phúc sau đó ra ở riêng, đến năm 2012 thấy vợ chồng hay sảy ra cãi chửi nhau nguyên nhân thế nào bà không rõ cụ thể, tuy nhiên theo bà cũng do trong ăn, ở sinh hoạt và nuôi dạy con cái, anh N hay uống rượu chị Th và gia đình đã khuyên can, góp ý nhưng anh N không thay đổi nên liên tục sảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 12/2016 chị Th về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã Đ, anh N hiện đi làm ăn thỉnh thoảng mới về, vợ chồng không quan tâm, hỏi thăm gì đến nhau. Nay chị Th xin ly hôn, tùy Tòa án xem xét quyết định theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng chị Th, anh N có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 24/8/2008 và Nguyễn Đình Q, sinh ngày 30/3/2013, vợ chồng Th, Nam ly hôn tùy Tòa án xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung của vợ chồng chị Th, anh Nam theo bà bình biết là không có, tùy Tòa án xem xét, giải quyết theo định theo quy định của pháp luật.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng của chị Th thì cũng không có, tùy Tòa án xem xét, giải quyết theo định theo quy định của pháp luật.
Trước khi chuyển sang phần nghị án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ xác định: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn anh Nguyễn Đình N từ khi bị khởi kiện về việc ly hôn đã không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng không có lý do. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh N. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 24/8/2008 và Nguyễn Đình Q, sinh ngày 30/3/2013 cho chị Th trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh N. Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng: Không có, vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật, tiến hành hòa giải vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh Nam vắng mặt không đến Tòa án làm việc. Vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con mà bị đơn có nơi cư trú tại xóm QT, xã TL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Đình N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nam không đến Tòa án làm việc, vắng mặt không có lý do. Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Nam vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp, đúng quy định củ pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai của đương sự, xác minh. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Th và anh Nguyễn Đình N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
- Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Th nhận thấy: Sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian hạnh phúc, sau đó trong ăn ở sinh hoạt hàng vợ chồng luôn xẩy ra mâu thuẫn, cãi vã, không có tiếng nói chung. Chị Th cho rằng do anh N hay uống rượu, chơi bời, không chịu làm ăn, chị góp ý nhưng anh N không sửa đổi, chị đã cho anh N thời gian để sửa chữa sai lầm nhưng không có thay đổi gì. Tại biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị B xác định vợ chồng anh N, chị Th có nhiều mâu thuẫn trong ăn ở sinh hoạt hàng ngày và nuôi dạy con cái, trên thực tế vợ chồng đã sống xa nhau từ khi tháng 12/2016 cho đến nay, ngày tết, ngày lễ chị Th không về. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng anh N không đến Tòa án để làm việc. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của chị Th là có căn cứ, đúng thực tế.
- Về yêu cầu xin nuôi con chung của chị Th xét thấy: Chị Th và anh N có hai con chung là Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 24/8/2008 và Nguyễn Đình Q, sinh ngày 30/3/2013. Chị Th có nơi ở, có việc làm, có thu nhập ổn định, anh N không đến Tòa án để làm việc. Việc giao cháu Q, cháu Q cho chị Th được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với nguyện vọng của con, đảm bảo quyền, lợi ích về mọi mặt của cháu Q, cháu Q. Vì vậy nguyên vọng xin được nuôi con của chị Th là phù hợp với thực tế, cần được chấp nhận.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án đã giải thích đây là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nhưng chị Th tự nguyện không yêu cầu anh Nam phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung: Chị Nông Thị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng: Chị Nông Thị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Đình N.
2. Về con chung: Giao cho chị Nông Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 24/8/2008 và Nguyễn Đình Q, sinh ngày 30/3/2013 cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được, anh Nam có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Đình N do chị Th tự nguyện không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, khoản có cho vay chung, khoản nợ chung: Chị Nông Thị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
Về công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng: Chị Nông Thị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nông Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008625 ngày 01/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá (2 bản); - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - lưu Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thiện Hoàng |