vanban.org

Bản án 37/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 18/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K; ông Hồ Văn L, bà Trương Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất theo đo đạc thực tế l 110,46m2 (trong đ c 65,3m2 loại đất ở v 45,16m2 loại đất vườn) thuộc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực B, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh, giới cận: Đông giáp đường V; Tây giáp nh ông Hồ Văn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Trọng A"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K; ông Hồ Văn L, bà Trương Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2019/DS-PT
Ngày: 18 – 6 – 2019
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường.

Các Thẩm phán:

Bà Lê Th Ho i Thanh;

Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: B Huỳnh Th Phương Thủy l Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Th Lệ Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2019/TLPT-DS ngày 18 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2018/DS-ST ng y 29 tháng 11 năm 2018 của To án nhân dân th xã A, b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 46/2019/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Trọng A; c m t.

Ch Ngô th K; c m t.

Cùng cư trú tại: Số nh đường V, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn L; c m t.

Bà Trương Th T; v ng m t.

Người đại diện h p pháp của bà Trương Thị T: Anh Hồ Văn A l người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lập ng y 24/4/2018).

Cùng cư trú tại: Số nh đường V, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh.

Người b o vệ quy n, l i ích h p pháp của ông Hồ Văn L, bà Trương Thị T: Ông Nguyễn Thanh H l Luật sư của Văn phòng Luật sư N, thuộc đo n Luật sư tỉnh Bình Đ nh.

- Người có quy n l i, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hồ Văn A, sinh năm 1984; cư trú tại Số nh đường V, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; c m t.

2. Anh Hồ Văn N, sinh năm 1987; cư trú tại Số nh đường V, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; c m t.

3. Ch Hồ Th C, sinh năm 1982; cư trú tại số, khu phố, phường Đ, Quận, Thành phố Hồ Chí Minh; v ng m t.

4. Ch Hồ Th Á, sinh năm 1986, cư trú tại số Ấp, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; v ng m t.

Người đại diện h p pháp của chị Hồ Thị C, chị Hồ Thị Á: Anh Hồ Văn N là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lập ng y 05/6/2019).

5. Bà Hồ Th L, sinh năm 1963; cư trú tại Thôn N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; c m t.

6. Ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1941; cư trú tại số đường T, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; c m t.

7. Bà Hồ Th Kim L, sinh năm 1950; cư trú tại Buôn Đ, xã C, thành phố B, tỉnh ĐăkLăk; v ng m t.

Người đại diện h p pháp của chị Hồ Thị Kim L: Bà Hồ Th L l người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền lập ng y 11/6/2019).

- Người làm chứng: Ông Võ Trung T, sinh năm 1956; cư trú tại Khu vực P, phường N, th xã A, tỉnh Bình Đinh; c m t.

- Người kháng cáo: Anh Trần Trọng A; Ch Ngô th K l nguyên đơn và ông Hồ Văn L; bà Trương Th T l b đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn v chồng anh Trần Trọng A, Chị Ngô thị K, thống nhất trình bày:

Ngày 20/10/2006 vợ chồng anh ch c nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L, bà Tmột khoảnh đất diện tích 90m2 (trong đ gồm 80m2 loại đất ở v 10m2 loại đất vườn thừa), giới cận: Phía B c giáp nh vợ chồng ông L, bà T; phía Đông giáp đường đi (nay l đường V); phía Tây giáp nh ông Hồ Văn C; phía Nam giáp đường đất (nay l hẻm đường T) tại khu vực B, th trấn Đ (nay là phường Đ), th xã A, số tiền nhận chuyển nhượng 76.500.000đ (loại đất ở l 900.000đ/m2, đất vườn l 450.000đ/m2). Năm 2009, vợ chồng ông L, bà Tc t giao đất cho vợ chồng anh ch xây dựng nh ở. Vợ chồng anh ch cũng đã thanh toán cho vợ chồng ông L, bà T 75.000.000đ, còn lại 1.500.000đ hai bên thống nhất khi n o l m xong thủ tục sang tên thì vợ chồng anh ch sẽ thanh toán đủ. Việc chuyển nhượng đất hai bên chỉ viết “Giấy nhượng đất ở”, không qua công chứng, chứng thực tại cơ quan c thẩm quyền. V do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh L, ch T đang thế chấp vay tại Ngân h ng, nên hai bên chưa l m thủ tục sang nhượng được.

Năm 2014, khoảnh đất vợ chồng anh ch nhận chuyển nhượng b UBND th xã A thu hồi 14,7m2 (loại đất ở) để giải ph ng m t bằng xây dựng công trình: Mở nút giao thông đoạn từ cầu Ông Đ đi đô th mới phường Đ. Vợ chồng anh, ch nhận hỗ trợ bồi thường số tiền 22.050.000đ. Đến năm 2017, khi tiến h nh đo đạc diện tích đất để l m thủ tục sang nhượng thì vợ chồng ông L, b T thấy diện tích đất thực tế anh, ch sử dụng nhiều hơn diện tích đất ghi trong “Giấy nhượng đất ở” nên yêu cầu vợ chồng anh, ch phải trả thêm tiền ho c trả diện tích đất n y cho họ. anh A, ch K không đồng ý, nên phát sinh tranh chấp.

Tại “Giấy nhượng đất ở” hai bên lập ng y 20/10/2006 đã xác đ nh diện tích, loại đất v giới cận rõ r ng. Nhưng khi c t giao đất hai bên thỏa thuận chỉ đo đạc phần diện tích đất ở 80m2 để xây nh , còn đất vườn không tiến h nh đo m chỉ ước chừng l 10m2. Trên diện tích đất vườn ở ranh giới phía Nam c h ng tre, quá trình sử dụng vợ chồng anh ch đã phá bỏ bụi tre, nên diện tích đất thực tế sử dụng mới được nới rộng hơn. Vợ chồng ông L, bà giao đất cho vợ chồng anh ch ở ổn đ nh từ năm 2009 cho đến nay. Vợ chồng ch cũng đã thanh toán gần hết số tiền nhận chuyển nhượng cho vợ chồng ông L, bà T. Nay vợ chồng anh ch yêu cầu ông L, bà Ttiếp tục thực hiện hợp đồng hai bên lập ng y 20/10/2006 v công nhận diện tích đất chuyển nhượng theo diện tích sử dụng thực tế m Hội đồng đo đạc đ nh giá xác đ nh. Nếu thực tế sử dụng c cao hơn diện tích diện tích ghi trong hợp đồng thì vợ chồng anh ch cũng không đồng ý thanh toán tiền, vì phần diện tích đất n y nằm trong diện tích đất vợ chồng ông L, bà T đã chuyển nhượng cho anh ch . Đối với số tiền 1.500.000đ anh ch đồng ý thanh toán cho vợ chồng ông L, bà T khi giải quyết xong vụ án. Tại phiên tòa, vợ chồng anh A, ch K vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Tại b n tự khai, biên b n lấy lời khai, biên b n hòa gi i và trong quá trình xét xử bị đơn ông Hồ Văn L, trình bày:

Năm 2006 do cần chi phí lo cho các con ăn học, sau khi được sự đồng ý của cha cùng các anh ch em trong gia đình, vợ chồng ông đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh A, ch K một khoảnh đất ở phía Nam của thửa đất số 149, tờ bản đồ số 10 tại khu vực B, phường Đ được UBND huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, do ông đứng tên đại diện. Hộ gia đình ông gồm bảy nhân khẩu: Cha ông cụ Hồ L (chết năm 2008), vợ chồng ông v bốn người con Hồ Văn A, Hồ Văn N, Hồ Th C và Hồ Th Á. Việc chuyển quyền sử dụng đất hai bên chỉ viết giấy tay “Giấy nhượng đất ở” ng y 20/10/2006, không qua công chứng, chứng thực tại cơ quan c thẩm quyền, nhưng c xác đ nh diện tích, loại đất, v trí, giới cận v giá tr đất chuyển nhượng. Năm 2009 vợ chồng ông c t giao đất cho vợ chồng anh A, ch K xây dựng nh ở v vợ chồng anh A, ch K đã thanh toán cho vợ chồng ông số tiền chuyển nhượng 75.000.000đ, còn lại 1.500.000đ hai bên thống nhất khi n o sang tên xong sẽ thanh toán.

Theo “Giấy nhượng đất ở” xác đ nh phần đất chuyển nhượng c giới cận phía Nam giáp đường đi. Nhưng khi tiến h nh c t giao đất, vợ chồng anh A, ch K thấy phần đất phía Nam b xéo, nên đề ngh vợ chồng ông kéo giãn thước về phía B c cho khoảnh đất có hình vuông, xây nh cho đẹp. Lúc đầu vợ chồng ông không đồng ý vì nếu c t giao đất như vậy thì phần diện tích đất xéo còn lại sẽ b ngăn cách bởi của nh vợ chồng anh A, ch K rất kh cho việc sử dụng của vợ chồng ông. Nhưng vợ chồng anh A, ch K cứ năn nỉ v n i vợ chồng ông cứ c t giao đủ phần diện tích đất đã chuyển nhượng, còn phần đất xéo hai bên sẽ tính sau. Vợ chồng ông thống nhất c t giao vợ chồng anh A, ch K khoảnh đất để xây dựng nh chính c diện tích ngang 5m, d i 14m (hết chiều d i thửa đất), còn nh bếp v công trình phụ được xây kéo một phần v o phía Nam, theo hình chữ L, không tiến h nh đo diện tích nhưng ước chừng l 10m2. Vợ chồng ông đã c t giao đủ diện tích đất chuyển nhượng cho vợ chồng anh A, ch K, còn đất tiếp giáp với nh bếp của vợ chồng anh A, ch K kéo về trước đường V vẫn thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông. Phần diện tích đất n y hai bên không tiến h nh đo đạc nên cũng không biết diện tích bao nhiêu. Sau đ xây nh khoảng hai năm vợ chồng anh A, ch K hỏi vợ chồng ông mượn diện tích đất n y xây tạm hiên ch i để dựng xe. Vợ chồng ông nghĩ phần đất n y mình cũng không sử dụng v trước sau gì cũng chuyển nhượng lại cho vợ chồng anh A, ch K nên đồng ý cho mượn. Việc cho mượn đất hai bên chỉ l thỏa thuận miệng, chứ không c viết giấy tờ gì. Lúc đầu, vợ chồng anh A, ch K chỉ gác tạm cây v che lại sau đ xây dựng hiên ch i v tường r o kiên cố bao quanh.

Năm 2014 phần diện tích đất vợ chồng ông chuyển nhượng cho vợ chồng anh A, ch K b UBND th xã A thu hồi l 14,7m2, loại đất ở để mở rộng đường V. Vợ chồng anh A, ch K l người nhận tiền hỗ trợ bồi thường, nhưng diện tích đất thu hồi đã trừ v o diện tích đất ở tại thửa đất 149 của vợ chồng ông. Nay ông thống nhất tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng đất hai bên đã lập ng y 20/10/2006, với diện tích đất còn lại sau khi b thu hồi l 75,3m2 (trong đ gồm 65,3m2 đất ở v 10m2 đất vườn) v yêu cầu vợ chồng anh A, ch K phải thanh toán cho vợ chồng ông số tiền chuyển nhượng đất còn nợ 1.500.000đ. Đối với phần diện tích đất vợ chồng anh A, ch K sử dụng vượt quá diện tích đất hai bên đã thỏa thuận chuyển nhượng trước đây (theo Hội đồng đ nh giá xác đ nh khoảng 35m2) thì buộc vợ chồng anh A, ch K phải trả lại cho gia đình ông. Vợ chồng anh A, ch K phải tự tháo dỡ công trình đã xây dựng, vợ chồng ông sẽ không bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa, ông L giữ nguyên yêu cầu, buộc vợ chồng anh A, ch K phải tháo dỡ công trình xây dựng v trả cho gia đình ông phần diện tích đất chênh lệch 35m2.

Tại b n tự khai, biên b n lấy lời khai, biên b n hòa gi i và trong quá trình xét xử anh Hồ Văn A là người đại diện h p pháp theo ủy quy n của bị đơn bà Trương Thị T đồng thời là người có quy n l i, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Văn A, chị Hồ Thị Á; chị Hồ Thị C; anh Hồ Văn N trình bày:

Thống nhất lời khai của ông L. Tại phiên Tòa phúc thẩm yêu cầu trả đất.

Tại b n tự khai, biên b n lấy lời khai người có quy n l i nghĩa vụ liên quan ông Hồ Ngọc L, trình bày:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L, bà T và vợ chồng anh A, ch K ý kiến của ông thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng, còn cụ thể như thế n o thì ông giao cho ông L quyết đ nh. Năm 2009 ông được vợ chồng anh A, ch K thuê xây dựng nh . Ông trực tiếp đo diện tích đất theo mốc giới mà ông L chỉ để thợ mở m ng nh . Do ranh giới phía Nam khoảnh đất được giao c h ng tre, nên thợ vừa phá dỡ tre, vừa mở m ng, ông nhớ phần đất giao cho vợ chồng anh A, ch K xây nhà chính giáp đường V, chiều ngang 4,7m, chiều d i kéo hết phần đất, còn nh bếp v công trình phụ kéo về hẻm T tạo th nh chữ L. Còn lại phần đất chưa xây dựng nh giáp đường T c bụi tre chưa phá bỏ, nên không c đo đạc. Sau khi xây nh khoảng ba năm, vợ chồng anh A, ch K phá bỏ bụi tre v thuê ông xây dựng hiên ch i v tường r o bao quanh khoảnh đất như hiện trạng. Tại phiên Tòa phúc thẩm yêu cầu trả đất.

Tại biên b n lấy lời khai người có quy n l i nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị L, bà Hồ Thị Kim L đồng trình bày:

B thống nhất mối quan hệ gia đình như lời trình b y của ông Hồ Ngọc L. B thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất m vợ chồng ông L, bà T cùng vợ chồng anh A, ch K đã xác lập, cụ thể như thế n o thì giao cho ông L quyết đ nh. Tại phiên Tòa phúc thẩm yêu cầu trả đất.

B n án dân sự sơ thẩm số 96/2018/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã A, quyết định:

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất theo đo đạc thực tế l 110,46m2 (trong đ có 65,3m2 loại đất ở v 45,16m2 loại đất vườn) thuộc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 10, đ a chỉ khu vực B, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh, giới cận: Đông giáp đường V; Tây giáp nh ông Hồ Văn C; Nam giáp đường T; B c giáp nh vợ chồng ông L, bà T) giữa vợ chồng ch K, anh A v vợ chồng ông L, bà Txác lập ng y 20/10/2006 c hiệu lực (c sơ đồ đo vẽ hiện trạng nh v đất kèm theo).

Buộc vợ chồng ông L, bà T c trách nhiệm đến cơ quan nh nước c thẩm quyền để ho n tất thủ tục sang tên phần đất đã chuyển nhượng theo đo đạc thực tế là 110,46m2 cho vợ chồng anh A, ch K. Nếu phía gia đình ông L, bà T gây khó khăn thì anh A, ch K được chủ động đến cơ quan nh nước c thẩm quyền kê khai để l m thủ tục để sang tên, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy đ nh của luật đất đai.

Buộc vợ chồng ch K, anh A c trách nhiệm thanh toán cho hộ gia đình ông L 36.660.000đ (trong đ 35.160.000đ l giá tr đất chênh lệch v 1.500.000đ tiền nhận chuyển nhượng đất chưa thanh toán), ngay sau bản án c hiệu lực thi h nh.

Bác yêu cầu của vợ chồng ông L, bà T, anh A, anh N, ch C, ch Á về việc yêu cầu vợ chồng ch K, anh A phải tháo dỡ công tình xây dụng v trả lại phần diện tích đất thừa 35m2.

Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn quyết đ nh về án phí dân sự sơ thẩm v quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 10/12/02/2019 vợ chồng anh A, ch Kkháng cáo yêu cầu Tòa công nhận diện tích đất thực tế sử dụng v không đồng ý thanh toán giá tr đất chênh lệch 35.000.000 đồng cho vợ chồng ông L, bà T.

Ngày 13/12/2019 vợ chồng ông L, bà Tyêu cầu vợ chồng anh A, ch Ktrả lại phần diện tích đất thừa 35,16m2, không đồng ý thanh toán theo giá tr đất v đề ngh hủy bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến h nh tố tụng v người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật tố tụng; đồng thời đề ngh chấp nhận kháng cáo của anh A, ch K; không chấp nhận kháng cáo của ông L, b Thọ sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất theo đo đạc thực tế l 110,46m2 (trong đ c 65,3m2 loại đất ở và 45,16m2 loại đất vườn) thuộc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực B, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; giới cận: Đông giáp đường V; Tây giáp nhà ông Hồ Văn C; Nam giáp đường T; B c giáp nh vợ chồng ông L, bà T) giữa vợ chồng ch K, anh A v vợ chồng ông L, bà Txác lập ng y 20/10/2006 c hiệu lực l c căn cứ đúng quy đ nh pháp luật về đất đai v Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Bởi lẽ: Theo Giấy trích nhượng đất ngày 06/02/2007 không ghi tứ cận, chỉ ghi diện tích ghi rộng 5m, d i 14m sát biên nh ông L đang ở; Giấy nhượng đất ở ngày 20/10/2006 c ghi tứ cận v ghi diện tích chuyển nhượng là 90m2; Giấy hẹn nợ ngày 12/3/2009 c ghi tứ cận v ghi diện tích chuyển nhượng là 90m2 trong đ c 80m2 đất ở, 10m2 đất thừa. Như vậy, căn cứ v o Giấy sau cùng Hội đồng xét xử c đủ cơ sở xác đ nh v o ngày 20/10/2006 giữa vợ chồng ch K, anh A v vợ chồng ông L, bà T đã xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích 90m2 (trong đ đất ở 80m2, đất vườn thừa 10m2), với giá 76.500.000đ. M t khác, năm 2009 bên bán đã giao đất cho bên mua xây dựng nh ở từ đ cho đến nay; còn bên mua đã giao tiền cho bên bán còn nợ lại 1.500.000đ hẹn khi n o ho n th nh thủ tục chuyển nhượng sẽ giao đủ. Như vậy, việc chuyển nhượng v thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên bán nhận tiền sử dụng mục đích gia đình; sự việc n y gia đình ông L, bà T biết nhưng không c ý kiến gì phản đối từ 2006 cho đến nay. Do đ , Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông L v yêu cầu của những người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên án sơ thẩm về phần n y.

Án sơ thẩm buộc vợ chồng ch Ngô th K, anh Trần Trọng A có trách nhiệm thanh toán cho hộ gia đình ông Hồ Văn L 36.660.000đ (trong đ 35.160.000đ l giá tr đất chênh lệch v 1.500.000đ tiền nhận chuyển nhượng đất chưa thanh toán) l c căn cứ đúng quy đ nh pháp luật. Bởi lẽ: Diện tích đất vợ chồng ông L, bà T chuyển nhượng cho vợ chồng anh A, ch K là 90m2 (trong đ gồm 80m2 loại đất ở v 10m2 loại đất vườn); nhưng diện tích đất thực tế m vợ chồng anh A, ch K sử dụng l 110,46m2. Như vậy, so với diện tích đất thỏa thuận chuyển nhượng còn lại sau khi b thu hồi v diện tích đất thực tế m vợ chồng anh A, ch K sử dụng chênh lệch 35,16m2 [110,46m2 – 75,3m2 = 35,16m2] loại đất vườn. Lẽ ra, vợ chồng anh A, ch K phải trả lại phần giá tr đất chênh lệch 35,16m2 cho hộ gia đình ông L, bà T; nhưng hiện nay vợ chồng anh A, ch K đã xây dựng nh từ 2009 đến nay hộ gia đình ông L không c ý kiến gì; để đảm bảo giá tr sử dụng v vợ chồng anh A, ch K đã xây dựng th nh viên độc lập nên giao vợ chồng anh A, ch K tiếp tục sử dụng v phải c nghĩa thanh toán tr giá đất cho hộ gia đình ông L 35.160.000đ (35,16m2 x 1.000.000đ/m2). Ngo i ra, theo Giấy hẹn nợ ngày 12/3/2009 vợ chồng anh A, ch K còn nợ vợ chồng ông L, b T số tiền nhận chuyển nhượng đất l 1.500.000đ v hai bên thống nhất khi ho n tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì vợ chồng anh A, ch K phải thanh toán cho hộ gia đình ông L số tiền nhận chuyển nhượng đất còn nợ lại 1.500.000đ. Như vậy, vợ chồng anh A, ch K phải c nghĩa vụ thanh toán cho gia đình ông L, bà T 36.660.000đ (35.160.000đ + 1.500.000đ). Do đ , Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông L, vợ chồng anh A v yêu cầu của những người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên án sơ thẩm về phần n y.

Các quyết đ nh còn lại của bản án sơ thẩm không c kháng cáo kháng ngh nên giữ nguyên.

Áp dụng khoản 1 Điều 29 Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, vợ chồng ông L, vợ chồng anh A mỗi bên phải ch u 300.000đ án phí dân sư phúc thẩm.

Luật sư đề ngh chấp nhận kháng cáo của b đơn là không phù hợp với nhận đ nh trên của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề ngh chấp nhận kháng cáo của anh A, ch K; không chấp nhận kháng cáo của ông L, b Thọ sửa bản án sơ thẩm l chỉ phù hợp một phần với nhận đ nh trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 698, Điều 699, Điều 700, Điều 701 v Điều 702 Bộ luật Dân sự năm 2005; Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Điều 26, 27, 29 của Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K; ông Hồ Văn L, bà Trương Th T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất theo đo đạc thực tế l 110,46m2 (trong đ c 65,3m2 loại đất ở v 45,16m2 loại đất vườn) thuộc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu vực B, phường Đ, th xã A, tỉnh Bình Đ nh, giới cận: Đông giáp đường V; Tây giáp nh ông Hồ Văn C; Nam giáp đường T; B c giáp nh vợ chồng ông L, bà T) giữa vợ chồng Ch Ngô th K, anh Trần Trọng A v vợ chồng ông Hồ Văn L, bà Trương Th T xác lập ng y 20/10/2006 c hiệu lực (c sơ đồ kèm theo).

2. Buộc vợ chồng Ch Ngô th K, anh Trần Trọng A có nghĩa vụ thanh toán cho hộ gia đình ông Hồ Văn L 36.660.000 đồng (Ba mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

3. Các quyết đ nh còn lại của bản án sơ thẩm không c kháng cáo kháng ngh nên giữ nguyên.

4. Về án phí, chi phí tố tụng:

4.1. Ông Hồ Văn L, bà Trương Th T phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4.2. Anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K phải ch u 1.833.000 đồng. Anh ch được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008616 ng y 12/4/2018 của Chi cục Thi h nh án Dân sự th xã A; anh A, ch K còn phải nộp 1.533.000 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).

4.3. Anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008862 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi h nh án Dân sự th xã A; anh A, ch K đã nộp xong.

4.4. Ông Hồ Văn L, bà Trương Th T phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008858 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi h nh án Dân sự th xã A; ông L, b T đã nộp xong.

4.5. Ông Hồ Văn L, bà Trương Th T ho n lại cho anh Trần Trọng A, Ch Ngô th K 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét tại chỗ v đ nh giá.

5. Về nghĩa vụ thi h nh án:

5.1. Kể từ ng y c đơn yêu cầu thi h nh án của người được thi h nh án cho đến khi thi h nh án xong, tất cả khác khoản tiền h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi h nh án theo mức lãi suất quy đ nh tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015.

5.2. Trường hợp bản án được thi h nh theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự c quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án ho c b cưỡng chế thi h nh án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ