- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 37/2018/HSST Ngày: 22-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đích
2. Ông Hà Đồng Tịnh
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hương Trà - Cán bộ Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Văn Th; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991. Tại: Tỉnh A; Nơi ĐKHKTT: Xóm 4, xã Q, thị xã H, tỉnh A; Chỗ ở: Chưa xác định; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn C (chết); con bà: Lưu Thị H - trú tại xã Q, thị xã H, tỉnh A; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út.
- Tiền án: Ngày 10/4/2012, bị TAND huyện T, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xoá án tích).
- Tiền sự: Chưa
- Bị bắt tạm giam ngày 11/02/2018 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H, Công an TP Đà Nẵng. Có mặt.
* Nguyên đơn dân sự - Công ty trách nhiệm hữu hạn B - Địa chỉ: Số 84 phố Đ, phường Đ, quận B, TP Hà Nội. Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Hữu Đ - chức vụ Giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/09/2017, Lưu Văn H đến khu lán trại nghỉ ngơi của công nhân tại công trình Công ty TNHH H – Chi nhánh Đà Nẵng tại phường N, quận S để gặp bạn là Nguyễn Xuân C và Trần Văn Th. Tại đây, C nảy sinh ý định trộm cắp nên rủ Th, H cùng vào trong công trình H để trộm cắp dây cáp điện đem bán lấy tiền tiêu xài, H , Th đồng ý. Sau đó, C lấy 01 kìm cộng lực màu xanh dài khoảng 50cm đưa cho H cầm và cả ba cùng đi vào tầng hầm của công trình H , rồi đi đến vị trí để cuộn dây cáp điện. Tại đây, C và Th thay nhau dùng kìm cộng lực cắt 01 cuộn dây cáp điện hạ thế hiệu Tai Sin, dài 137m, lõi bên trong có 18 sợi bằng đồng, bọc hai lớp bên ngoài ra thành từng đoạn nhỏ (mỗi đoạn dài khoảng 70cm), còn H lấy những đoạn dây điện đã cắt được bỏ vào bao tải. Sau khi cắt xong và bỏ vào 03 bao tải, H , C , Th vác mỗi người 01 bao tải đi ra ngoài để tẩu thoát. Khi cả ba đi đến hàng rào B40 của công trình thì bị bảo vệ phát hiện đuổi theo. H bị bảo vệ giữ lại giao cho cơ quan công an còn C và Th bỏ chạy thoát.
Ngày 20/11/2017, Cơ quan CSĐT Công an quận S ra các Quyết định truy nã số: 01, 02 đối với Trần Văn Th, Nguyễn Xuân C. Đến ngày 11/02/2018 thì bắt được Trần Văn Th.
Tại Kết luận số: 90/2017/HĐĐGTSTTTHS ngày 26/09/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S, xác định: Giá trị của 137m dây cáp điện trên là: 20.070.500đ (Hai mươi triệu không trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng)
* Tang vật tạm giữ:
- 197 (một trăm chín mươi bảy) đoạn dây cáp điện màu đen, lõi bên trong bằng đồng, mỗi đoạn dài khoảng 70cm (đã trao trả lại cho đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH H- Chi nhánh Đà Nẵng là anh Đỗ Văn T);
- 01 (một) kìm cộng lực màu xanh, dài khoảng 50cm (đã xử lý tại Bản án số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018 của TAND quận S).
* Về bồi thường dân sự: - Công ty trách nhiệm hữu hạn H yêu cầu bồi thường số tiền là: 19.000.000đ, phần dân sự đã giải quyết xong tại Bản án số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018 của TAND quận S.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 17/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS 2015; điểm s khoản 1, Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS Bộ luật hình sự 2015; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th từ 18 tháng đến 21 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 11.02.2018.
* Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại bản án số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018 của TAND quận S.
* Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại bản án số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018.
Đối với Lưu Văn H đã bị đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 BLHS tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018 của Toà án nhân dân quận S; Nguyễn Xuân C hiện chưa xác định được ở đâu, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, tạm đình chỉ điều tra và khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, Nguyên đơn dân sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người nguyên đơn dân sự nêu tại hồ sơ cũng như các tài liệu,chứng cứ thu được như kìm cộng lực, các đoạn dây điện được bỏ vào bao tải mà cơ quan điều tra đã thu thập có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Trần Văn Th cùng đồng bọn đã có hành vi lén lút đột nhập vào tầng hầm của công trình H . Nơi công ty Trách nhiệm hữu hạn H để các cuộn dây cáp điện hạ thế chờ thi công công trình, để trộm cắp tài sản trị gía trị 20.070.500đ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Th thì thấy hết sức liều lĩnh và táo bạo bị cáo lợi dụng đêm tối và sự sơ hở của chủ sở hữu đã cùng đồng bọn lén lút đột nhập lấy trộm tài sản trị giá 20.070.500đ để nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo Trần Văn Th bị TAND huyện T, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bản án này chưa được xoá án tích. Phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 để tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo có nhân thân xấu, sau khi ra tù không chịu hoàn lương mà vẫn tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo rõ ràng về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với Nguyễn Xuân C hiện chưa xác định được ở đâu, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, tạm đình chỉ điều tra và khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng : Đã giải quyết xong tại Bản án số 13/2018/HSST ngày 27/3/2018 của TAND quận S nên không đè cập đến.
Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Th 21 ( hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11.2.2018.
2/ Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án xử công khai, bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận.S; - Chi cục THADS quận S; - Công an quận S; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lƣơng Thị Anh |