vanban.org

Bản án 37/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 12/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Đỗ Đình N phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 134; điể m b , s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; điể m h khoả n 2 Điề u 52; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Điề u 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạ t : Hà Văn T 32 (Ba mươi hai) tháng t ù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T cùng đồng bọn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Đỗ Đình N phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2017/HSST
Ngày: 12/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Đăng Dũ ng; Bà Nguyễn Thị Sơn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trầ n Văn Vũ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/HSST ngày 03/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/HSST- QĐ ngày 21/5/2018 đối với:

Các bị cáo:

1. Hà Văn T, sinh năm 1998.

Nơi cư trú : Thôn Đ, xã S, huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộ c: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông: Hà Văn T1, sinh năm 1964 và bà Trần Thị P, sinh năm 1967; Vợ , con: Chưa có .

Tiền sự: không.

Tiền án: Có 01 tiề n á n . Tại bản án số 50/2015/HSST ngà y 09/9/2015 của TAND huyệ n Thuậ n Thà nh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiế m đoạ t tà i sả n”. Ra trạ i ngà y 08/02/2016.

Nhân thân: Tại quyết định số 121 ngày 25/8/2014 bị Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạ t hà nh chí nh về hà nh vi “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma túy”. Hiệ n đã chấ p hà nh xong.

Bị cá o bị tạm giữ , tạm giam từ ngày 06/02/2018 đến nay . Hiệ n đang tạ m giam tạ i Trạ i tạ m giam công an tỉ nh Bắ c Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Đình N, sinh năm 1999.

Nơi cư trú : Thôn Chi Hồ , xã Tân Chi , huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ; Nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do ; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộ c: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông: Đỗ Đình L, sinh năm 1963 và bà Thân Thị Thu T3, sinh năm 1971; Vợ , con: Chưa có .

Tiền án, tiề n sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 09/02/2017 bị Công an huyện Thuận Thành xử phạt hành chính về

hành vi Cố ý gây thương tích.

- Tại bản án số 26/2018/HSST ngà y 13/3/2018 của TAND tỉnh Bắ c Ninh xử phạt 12 năm tù về tộ i “Giế t ngườ i”.

Bị cáo hiệ n đang bị tạ m giam tạ i Trạ i tạ m giam Công an tỉ nh Bắ c Ninh theo Quyế t đị nh tạ m giam số 866/2018/HSPT- QĐTG ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Khương Văn N1, sinh năm 1999. Đị a chỉ : Thôn N, xã Đ, huyệ n Gia Bì nh, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị P, sinh năm 1967. Đị a chỉ : Thôn Đ, xã S, huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

+ Ông Đỗ Đì nh L, sinh năm 1963. Đị a chỉ : Thôn C, xã T, huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

+ Bà Nguyễn Thị Ng , sinh năm 1960. Đị a chỉ : C, thị trấn H , huyệ n Thuậ n Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 25/7/2017 Đỗ Đình N đang ngồ i chơi cù ng Hà Văn T tại phố Hồ , thị trấn Hồ , huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh thì nhận được điện thoại của chị Bùi Thị N2, sinh năm 1999 ở thôn Xuân Ái, xã Hòa Long, thành phố Bắ c Ninh, tỉnh Bắc Ninh . Chị N2 bảo N cầm sạc pin ra Nhà nghỉ Nga Quảng ở thôn C, thị trấn H, huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắ c Ninh cho Chị N2 mượ n. Sau khi nghe điệ n thoạ i củ a Chị N2, do Chị N2 là bạn gái của T nên T đã cù ng N đi xe môtô đế n Nhà nghỉ Nga Quả ng. Khi đế n nơi, do Nhà nghỉ đó ng cổ ng nên T đã trè o tườ ng và o bên trong sân, T gặ p bà Nga (là chủ Nhà nghỉ) và hỏi phòng mà Chị N2 đang nghỉ , bà Nga nói với T là phòng số 3. T đến cửa phòng số 3 gọi cửa nhưng không có ai mở cử a , T đạ p cử a xông và o bên trong . Khi và o trong phò ng T thấ y anh Khương Văn N1 đang nằ m trên giườ ng , T xông lên giườ ng dù ng chân , tay đá nh anh N1. Sau đó T đạ p cử a nhà tắ m gọ i Chị N2 ra, khi Chị N2 ra, T gọi N vào phòng và cùng N dùng chân, tay đá nh anh N1. Mộ t lú c sau bà Nga lên can ngăn và đuổ i tấ t cả ra khỏ i nhà nghỉ. Khi đi ngang qua đố ng cá t củ a sân nhà nghỉ , T lấ y xẻng đánh về phía anh N1 nhưng không trú ng . Khi T, N, anh N1 và Chị N2 ra ngoài cổng nhà nghỉ thì T tiế p tụ c dù ng chân , tay đá nh anh N1 và tát Chị N2, sau đó T lấ y ¼ viên gạch đặc tại cổng nhà nghỉ đánh vào người anh N1 đồ ng thờ i T bắ t anh N1 đi xuố ng rã nh nướ c gầ n đó . Khi anh N1 đang đứ ng khom ngườ i dướ i rã nh nướ c thì N hỏi tên của anh N1. Do anh N1 trả lời không rõ ràng nên N đã rú t con dao bấ m mà u đen , dài 25cm, phầ n lưỡ i dao nhọ n , màu đen dài 12cm, rộ ng 3cm trong tú i quầ n ra và đâm mộ t nhá t và o vù ng lưng củ a anh N1. Sau đó T, N và Chị N2 lên xe đi về .

Hậ u quả : Anh Khương Văn N1 bị thương tích phải đi cấp cứu và điề u trị ở Bệ nh việ n đa khoa huyệ n Gia Bì nh , tỉnh Bắc Ninh từ ngày 26/7/2017 đến ngày 02/8/2017 thì ra viện . Sau đó đế n ngà y 05/8/2018 anh N1 tiế p tụ c nhậ p việ n điề u trị tại Bệnh viện Xanh Pôn đến ngày 14/8/2017 thì ra viện.

Tại giấy chứng nhậ n thương tí ch số 984 ngày 07/8/2017 của Bệ nh việ n đa khoa huyệ n Gia Bì nh , tỉnh Bắc Ninh xác đinh tình trạng thương tích của anh N1: Vùng cột sống thắt lưng có vết chém dài 2cm sâu sá t cộ t số ng, chảy nhiều máu, bờ gon. Vùng mặt có vết xây sát da.

Tại Bệnh án trích sao ngày 15/11/2017 của Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

thuộ c Sở y tế Hà Nộ i thể hiệ n:

- Khám toàn thân : tỉnh, tiế p xú c tố t , da niêm mạ c hồ ng , ngự c vữ ng , bụng mề m, tuyến giáp không to.

- Khám ngoại khoa: Vế t thương cù ng thắ t lưng L 2, L3 03cm đã khâu và cắ t chỉ. Vế t thương liề n tố t . Tụ dịch dưới vết thương . 2 chi dướ i vậ n độ ng cả m giá c bình thường.

- Các cơ quan khác: Chưa phá t hiệ n bệ nh lý .

- Siêu âm 01 bộ phậ n (05/8/2017): Nằ m trong tổ chứ c phầ n mề m dướ i da

vùng chính giữa cột sống thắt lưng có trúc dịch giảm âm đồng nhất , thành mỏng KT 18x38mm, có đường rò thông với phía thành sau ống sống đường kính 3mm, không đá nh giá đượ c đầ u đườ ng rò .

- XQTP (05/8/2017): Bình thường

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 4862/C54-TT1 ngày 27/12/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

1. Kế t quả chí nh:

- Vùng dầu mặt không có dấu vết thương tí ch.

- Sẹo vùng thắt lưng tương ứng với đố t số ng thắ t lưng L2, L3.

- Đốt sống thắt lưng L2, L3 còn phương tiện cố định không ảnh hưởng chức

- năng, không có di chứ ng thầ n kinh.

2. Kế t luậ n:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể :

Đối chiếu Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Khương Văn N1 tại thời điểm giám định như sau:

- Sẹo vùng thắ t lưng tương ứ ng vớ i đố t số ng thắ t lưng L 2, L3: là 1% (áp dụng Mục 1, Phần I, chương 9)

- Đốt sống thắt lưng L2, L3 còn phương tiệ n cố đị nh không ả nh hưở ng chứ c năng, không có di chứ ng thầ n kinh: 11% (vậ n dụng Mục 6.2, Phần XII, chương 8)

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Khương Văn N1 tại thời điểm giám định là: 12% (Mườ i hai phầ n trăm).

2.2Chấ n thương vù ng cộ t số ng thắ t lưng L2, L3 của anh Khương Văn N1 do vậ t sắ c gây nên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 25/Ctr - VKS ngày 02/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố Hà Văn T, Đỗ Đình N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điể m đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh như bản cáo trạng đã nêu là đú ng.

Bị cáo T khai: Khi thấ y anh Khương Văn N1 ở cùng phòng trong Nhà nghỉ Nga Quả ng cù ng vớ i Bù i Thị Nga, là bạn gái bị cáo nên bị cáo cùng với Đỗ Đình N dùng chân tay không đấm đá vào ngườianh N1. Khi ra sân nhà nghỉ bị cá o dù ng xẻ ng vụt vào anh N1 nhưng không trú ng. Khi đi ra đế n cổ ng nhà nghỉ bị cá o dù ng tay chân, gạch đánh vào người anh N1 và bắt anh N1 đi xuố ng rã nh nướ c ở gầ n đó đứ ng. Sau đó bị cáo thấyN có dùng một con dao bấm đâm trúng vào lưng củanh N1.

Khi biế t anh N1 bị thương bị cáo đã bỏ trốn và bị Cơ quan điề u tra truy na. Đễ ́ n ngày 06/02/2018 bị cáo đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Bị cáo N thừ a nhậ n tạ i nhà nghỉ Nga Quả ng bị cá o có dù ng chân, tay cù ng vớ i T đấ m đá và o ngườ i anh N1. Khi anh N1 đang đứ ng dướ i rã nh nướ c bị cá o dù ng con dao bấ m đâm mộ t nhá t và o vù ng lưng anh N1. Bị cáo thừa nhận vết thương ở lưng anh N1 là do bị cáo gây ra. Sau khi đâm anh N1, bị cáo mang con dao về, đến ngày 03/8/2017 bị cáo tiếp tục sử dụng con dao để gây á n, sau đó khi đi qua cầ u Hồ bị cá o ném con dao xuống sông Đuống.

Tại phiên tòa hôm nay , người bị hại là anh Khương Văn N1 trình bày: Anh xác nhận lời khai c ủa các bị cáo là đúng . Sau khi cá c bị cá o gây thương tí ch cho anh, anh đượ c ngườ i nhà đưa đi cấ p cứ u và điề u trị vế t thương tạ i Bệ nh việ n đa khoa huyệ n Gia Bình từ ngày 26/7/2017 đến ngày 02/8/2017 thì ra viện. Đến ngày 05/8/2018 anh tiế p tụ c nhậ p việ n điề u trị tạ i Bệ nh việ n Xanh Pôn đế n ngà

y 14/8/2017 thì ra viện. Nay anh đề nghị HĐXX xé t xử cá c bị cá o theo quy đị nh củ a pháp luật.

Về trá ch nhiệ m dân sự : Anh N1 yêu cầ u các bị cáo phải bồi thường cho anh tổ ng số tiề n là 150.000.000đ. (Bao gồ m: tiề n mổ và phẫ u thuậ t là 80.000.000đ, tiề n thuố c điề u trị là 20.000.000đ, tiề n bồ i thườ ng tổ n hạ i sứ c khỏ e là 50.000.000đ). Ngoài ra anh không yêu cầ u bị cá o phả i bồ i thườ ng bấ t kỳ một khoản tiền nào khác

Các bị cáo không nhất trí bồi t hườ ng cho anh N1 tổ ng số tiề n 150.000.000đ theo như yêu cầ u củ a anh N1 mà đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luậ t.

Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Đình L và bà Trầ n Thị P trình bày: Trong quá trình điều tra và chuẩ n bị xé t xử các bị cáo N, T đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại. Vì vậy ông L và bà P thay mặ t bị cá o N, T tự nguyệ n mỗ i gia đì nh nộ p số tiề n 20.000.000đ nhằ m khắ c phụ c hậ u quả cho bị hại . Nay ông L, bà P không yêu cầ u bị cá o N, T phải hoàn trả lại số tiền này.

Bà Nguyễn Thị Nga có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa . Trong đơn bà Nga trình bày: Trong quá trì nh xô xá t bị cá o T đã là m bung cử a chí nh đi và o phò ng và vỡ kí nh nhà vệ sinh nhưng bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Ngoài ra bà còn giao nộp cho cơ quan điều tra01 chiế c xẻ ng nhưng bà không đề nghị xin la.̣ i

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyệ n Thuậ n Thà nh sau khi phân tích, đánh giá N nhân, động cơ, tính chất, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo vẫn giữ N quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 134; điể m b, s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; điể m h khoả n 2 Điề u 52; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 xử phạ t Hà Văn T từ 30 đến 36 tháng tù.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 134; điể m b, s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 38 Bộ luậ t hình sự năm 2015 xử phạ t Đỗ Đình N từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luậ t dân sự : Buộ c các bị cáo phải liên đớ i bồ i thườ ng cho anh N1 tổ ng số tiề n 67.406.400đ (Cụ thể mỗi bị cáo phải bồi cho anh N1 33.703.200đ)

Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng khá c cũng không tham gia tranh luận với đại diệ n Việ n kiể m sá t.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

HỘ I ĐỒ NG XÉT XỬ NHẬ N ĐỊ NH

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với thương tích để lại trên cơ thể người bị hại, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/7/2017, tại nhà nghỉ Nga Quảng thuộ c thôn Chương Xá , thị trấn Hồ, huyệ n Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Các bị cáo Hà Văn T , Đỗ Đình N đã có hà nh vi dù ng tay chân không đấ m đá vào người anh Khương Văn N1. Bị cáo T còn dùng xẻng, gạch đánh anh N1, bị cáo N dùng dao đâm và o vù ng lưng anh N1 nên đã gây thương tích cho anh N1 với tỷ lệ thương tật là 12%. Các bị cáo trướ c đó không có mâu thuẫ n gì vớ i anh N1 nhưng chỉ vì N cớ nhỏ nhặt cho rằng anh N1 có quan hệ với bạn gái bị cáo T mà bị cáo N đã dù ng dao đâm và o vù ng lưng anh N1. Do vậ y hành vi của các bị cáo phạm vào tội Cố ý gây thương tí ch quy đị nh tạ i điể m a, i khoản 1 Điề u 134 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác đượ c phá p luậ t bả o vệ . Hành vi phạm tội của các bị cáo còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tì nh hì nh trạt tự trị an tại địa phương do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc , cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừ a chung.

Xét tính chất của vụ án thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết, phân công vai trò cụ thể mà các bị cáo đều cùng nhau trự c tiế p thực hiện hành vi phạm tội. Mặ c dù bị cá o T không trự c tiế p cầ m dao đâm anh N1 nhưng bị cá o là ngườ i đá nh anh N1 trướ c, sau đó gọ i N vào cùng bị cáo đánh anh N1 do vậ y bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứ ng vớ i hà nh vi phạm tội của mình.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều sinh ra trong gia đình con em lao động, tuổ i đờ i cò n trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện làm ăn chân chínhmà lại chơi bời lêu lổng và đều có nhân thân xấu.

Bị cáo T: Ngày 25/8/2014 bị Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy . Ngoài ra bị cáo có 01 tiề n á n: Ngày 09/9/2015 bị TAND huyện Thuận Thành xử phạt 09 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ra trạ i ngà y 08/02/2016. Nên lầ n phạ m tộ i lầ n nà y thuộ c trườ ng hợ p tá i phạ m quy đị nh tạ i điể m h khoả n 2 Điề u 52 Bộ luậ t hình sự.

Bị cáo N: Ngày 09/02/2017 bị Công an huyệ n Thuậ n Thà nh xử phạ t hà nh

chính bằng hình thức phạt tiền với mứ c 1.000.000đ về hà nh vi cố ý gây thương tích. Ngoài hành vi này Tại bản án số 26/2018/ HS- ST ngà y 13/3/2018 bị cáo bị TAND tỉ nh Bắ c Ninh xử phạ t 12 năm tù về tộ i Giế t ngườ i (Bản án chưa có hiệu lự c phá p luậ t).

Tuy nhiên và tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Sau khi phạ m tộ i đã tá c độ ng đế n gia đì nh tự nguyệ n bồ i thườ ng khắ c phụ c mộ t phầ n hậ u quả cho bị hạ i . Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T đượ c hưở ng thêm tì nh tiế t giả m nhẹ là đầ u thú quy đị nh tạ i khoả n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do phí a anh N1 và các bị cáo không thỏa thuận được vớ i nhau về mứ c bồ i thườ ng thiệ t hạ i nên cầ n buộ c cá c bị cá o phả i bồ i thườ ng cho anh N1 theo quy đị nh củ a phá p l uật. Qua xá c minh mứ c thu nhậ p bì nh quân củ a ngườ i lao độ ng tạ i đị a phương nơi anh N1 cư trú là 200.000đ/ 1 ngày. Theo cá c tà i liệ u chứ ng cứ do anh N1 xuấ t trì nh tạ i cơ quan điề u tra thể hiệ n : Anh N1 vào viện Đa khoa huyệ n Gia Bì nh từ ngà y 26/7/2017đến ngày 02/8/2017 ra việ n. Sau đó đến ngày 05/8/2017 vào viện Xanhpôn đến ngày 14/8/2017 thì ra viện . Như vậ y tí nh tổ ng số ngà y anh N1 phải điều trị thương tích và người chăm sóc là 18 ngày.

- Tổ ng chi phí tiề n thuố c, tiề n phẫ u thuậ t theo cá c biên lai do anh N1 giao nộ p là 35.206.400đ.

- Chi phí đi lạ i 02 lầ n ra viên Xanh pôn là 2.000.000đ.

- Tiề n mấ t thu nhậ p trong thờ i gian anh N1 phải điều trị thương tích là 18 ngày x 200.000đ/ 1 ngày = 3.600.000đ.

- Tiề n mấ t thu nhậ p củ a ngườ i chăm só c trong thờ i gian anh N1 phải điều trị thương tí ch là 18 ngày x 200.000đ/ 1 ngày = 3.600.000đ.

- Tiề n bồ i dưỡ ng phụ c hồ i sứ c khỏ e: 10.000.000đ.

- Tiề n bồ i thườ ng bù đắ p tổ n thấ t tinh thầ n tương đương 10 tháng lương cơ sở x 1.300.000đ/ 1 tháng = 13.000.000đ.

Như vậ y cầ n buộ c các bị cáo phải có trách nhiệm liên đớ i bồ i thườ ng cho anh N1 tổ ng số tiề n là 67.406.400đ. Cụ thể: mỗ i bị cá o phả i bồ i thườ ng cho anh N1 33.703.200đ.

Đối với con dao N dùng để gây thương tí ch choanh N1. Sau đó N đã vứ t xuố ng sông Đuố ng nên Cơ quan điề u tra không thu hồ i đượ c.

Đối với ông Đỗ Đình L và bà Trầ n Thị P, mỗ i ngườ i nộ p số tiề n 20.000.000đ tại Cơ quan thi hành án để bồi thường, khắ c phụ c hậ u quả cho bị hại thay cho bị cáo. Nay ông L, bà P không yêu cầ u bị cá o N, bị cáo T phải trả lại số tiền này nên không đặ t ra xem xé t.

Đối với 01 chiế c xẻng của bà Nga mà bị cáo T dùng để đánh anh N1. Nay bà Nga không yêu cầ u xin lạ i. Xét thấy không có giá trị sử dụ ng nên cầ n tị ch thu tiêu hủy.

Liên quan trong vụ á n nà y cò n có chị Bù i Thị Nga, là người gọi điện cho N để bảo N mang sạ c pin điệ n thoại đến Nhà nghỉ Nga Q uảng cho chị mượ n nhưng Chị N2 không bà n bạ c vớ i T và N để T và N đến gây thương tích cho anh N1 nên Cơ quan điề u tra không xử lý đố i vớ i Chị N2 là phù hợp.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩ m theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Đỗ Đình N phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 134; điể m b , s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; điể m h khoả n 2 Điề u 52; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Điề u 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạ t : Hà Văn T 32 (Ba mươi hai) tháng t ù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y

06/02/2018. Tiế p tụ c tạ m giam bị cá o 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điể m đ khoản 2 Điều 134; điể m b, s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015.

Xử phạt: Đỗ Đì nh N 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t thi hà nh á n.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luậ t dân sự : Buộ c các bị cáo phải có trách nhiệm liên đớ i bồ i thườ ng cho anh Khương Văn N1 tổ ng số tiề n 67.406.400đồng. Cụ thể : Bị cáo T phải bồi thường cho anh N1 33.703.200đ (Ba mươi ba triệ u bả y trăm linh ba nghì n hai trăm đồ ng ). Bị cáo N phải bồi thường choanh N1. 33.703.200đ (Ba mươi ba triệ u bả y trăm linh ba nghì n hai trăm đồ ng).

(Xác nhận bị cáo T đã nộ p 20.000.000đ (Hai mươi triệ u đồ ng ) theo Biên bả n bàn giao tài sản , vậ t chứ ng ngà y 11/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuậ n Thà nh.

(Xác nhận bị cáo N đã nộ p 20.000.000đ (Hai mươi triệ u đồ ng) theo biên lai thu số AA /2014/0007697 ngày 24/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuậ n Thà nh.

Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với số tiền chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về vậ t chứ ng : Áp dụng Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 chiế c xẻ ng có cán làm bằng tre dài 120cm, lưỡ i xẻ ng dà i 33cm (Theo biên bả n giao nhậ n tà i sả n vậ t chứ ng ngà y 11/5/2018 của Chi cụ c thi hà nh á n dân sự huyệ n Thuậ n Thà nh);

Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:

Mỗ i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.685.000đồ ng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại , ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan có mặ t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c tố ng đạ t bả n á n hoặ c ngà y niêm yế t bả n án.

Cỡ chữ