vanban.org

Bản án 37/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 05/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo:Huỳnh Ngọc T phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Huỳnh Ngọc T 12(Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/07/2018 đến ngày 09/07/2018. Về vật chứng:Tịch thu tiêu hủy;01 thanh gỗ màu xám trắng, có chiều dài 81cm, hình trụ tròn đường kính nơi rộng nhất 3,5cm, đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Ngọc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo:Huỳnh Ngọc T phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS-ST
Ngày05/10/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Hương Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mai Dung 2. Ông Trần Đăng Thanh Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành - Kiểm sát viên.

Ngày 05tháng 10năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/TLST-HS ngày 21-08-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HS ngày 21-09-2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Ngọc T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/5/1995; Nơi sinh: xã Phong Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn Mã Thượng, xã Phong Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Huỳnh Văn H;Sinh năm: 1951; Họ và tên mẹ: Đinh Thị Trực; Sinh năm: 1958; Cả bố và mẹ đều làm ruộng và trú quán tại xã Phong Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; Anh chị em ruột: Có 6 người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 06/7/2018, đến ngày 09/7/2018 bị khởi tố bị cáo và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.(Có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại:Chị Trần Thị H; Sinh năm : 1997;Địa chỉ: Tổ dân phố Liên Phú, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h00’ ngày 29/6/2018, Huỳnh Ngọc T đến quán ăn “Khe Lau Quán”, thuộc tổ dân phố Liên Phú, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xem bóng đá thì thấy chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ dựng phía trước sân của quán nhưng không có người trông coi, nên đã nảy sinh ý định lấy trộm. Huỳnh Ngọc T nhặt một đoạn dây thép (loại thép buộc) dài khoảng 05 cm ở gần đó, rồi ngồi lên trên chiếc xe máy đó để quan sát, đồng thời đeo khẩu trang vào để tránh sự phát hiện. Huỳnh Ngọc T ngồi xuống trước đầu xe mô tô và dùng tay rút tắc te ra khỏi ổ điện, đồng thời đút hai đầu sợi dây thép vào hai lỗ tắc te thì nguồn điện của xe được bật lên. Do xe không khóa cổ nên Huỳnh Ngọc T ngồi lên xe mô tô tô BKS: 38K1-367.66 nổ máy và chạy về nhà. Khi về đến đoạn đường gần cầu Roon, thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình thì xe bị hết xăng, nên Huỳnh Ngọc T dùng tay tháo biển kiểm soát của xe và đưa xe vào cất dấu trong bụi cây gần đường, rồi xin xe của người qua đường đi về nhà. Đến khoảng 06h sáng ngày 30/6/2018, Huỳnh Ngọc T mua 01 lít xăng, rồi xin xe của người qua đường đi đến chỗ cất dấu xe trộm cắp để lấy xe đưa về nhà. Do không có chìa khóa để mở cốp xe, nên Huỳnh Ngọc T nhặt 01 thanh gỗ gần đó cạy cốp xe để đổ xăng, rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi đến một ngôi nhà hoang ở gần nhà cất dấu. Đến ngày 06/7/2018, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Huỳnh Ngọc T đã đến Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giao nộp chiếc xe trộm cắp và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu trắng - đỏ, BKS: 38K1-367.66, số khung 0610GY280594 số máy: G3D4E294499, mà Huỳnh Ngọc T trộm cắp nói trên là của chị Trần Thị H, sinh năm 1997, trú tại Tổ dân phố Liên Phú, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng UBND thị xã Kỳ Anh thì xe mô tô mà Huỳnh Ngọc T trộm cắp nói trên trị giá 36.800.000đ.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 37/CTr –KSĐT ngày 17 tháng 8 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và nhất trí với quyết định truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Tĩnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử;Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, Điểm r, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Huỳnh Ngọc Tmức án từ 15 đến 18tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06-7-2018 đến ngày 09-7-2018; Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ màu xám trắng, có chiều dài 81cm, hình trụ tròn đường kính nơi rộng nhất 3,5cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 2,5cm, một đầu vát nhọn; Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ ánđã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kỳ Anh, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại, không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, đều hợp pháp.

Tại phiên tòa,bị cáo Huỳnh Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận:Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 29/6/2018, trong khi đến quán ăn: “Khe Lau Quán” thuộc Tổ dân phố Liên Phú, phường Kỳ Liên, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xem bóng đá, lợi dụng việc chị Trần Thị H dựng xe trước cửa quán không khóa cổ xe và không có người trông giữ nên Huỳnh Ngọc T đã dùng một đoạn dây thép nối tắt khóa điện và lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, BKS: 38K1-367.66, của chị Trần Thị H, trị giá 36.800.000 đồng đưa về cất dấu tại ngôi nhà bỏ hoang ở gần nhà.Đến ngày 06/7/2018, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Huỳnh Ngọc T đã đến Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tự thú, giao nộp chiếc xe trộm cắp và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với hành vi nêu trên, nên Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh đã truy tố và đưa ra xét xử bị cáo Huỳnh Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai. Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, lỗi trong vụ án này là lỗi cố ý trực tiếp. Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Bị cáo Huỳnh Ngọc T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong vụ án này chỉ một mình bị cáo thực hiện hành vi. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của Huỳnh Ngọc T không vi phạm tình tiết định khung nên bị cáo bị xét xử ở Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bố và mẹ tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân, Huy chương; gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Những tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại Điểm i, Điểm r, Điểm s Khoản 1 và Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị Xã Kỳ Anh là có căn cứ phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi mà bị cáo đã gây. Hội đồng xét xử nhận thấy; Tuy đại diện Viện kiểm sát có đề nghị bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên đã tự nguyện đến Công an thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tự thú giao nộp chiếc xe trộm cắp và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bản thân phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự;gia đình có hoàn cảnh khó khăn; luôn chấp hành đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước; có 03 tình tiết giảm nhẹ hình phạt được qui định ở Khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ hình phạt qui định ở khoản 2 điều 51 bộ luật Hình sự, vì vậy nên giảm nhẹ một phần hình phạt so với mức án mà viện kiểm sát đề nghị; và xử lý bị cáo mức án trên mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ nghiêm; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục trở thành con người có ích cho gia đình và xã hội.

Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định; Nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Xét vật chứng01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, BKS: 38K1-367.66, số khung 0610GY280594, số máy G3D4E294499 (xe không đeo biển số); 01 chiếc biển kiểm soát xe mô tô 38K1- 367.66 là của chị Trần Thị H. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kỳ Anh đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

-01 thanh gỗ màu xám trắng, có chiều dài 81cm, hình trụ tròn đường kính nơi rộng nhất 3,5cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 2,5cm, một đầu vát nhọn, đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, chị Trần Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bán án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, Điểm r, Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

1. Tuyên bố bị cáo:Huỳnh Ngọc T phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Huỳnh Ngọc T 12(Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/07/2018 đến ngày 09/07/2018.

3. Về vật chứng:Tịch thu tiêu hủy;01 thanh gỗ màu xám trắng, có chiều dài 81cm, hình trụ tròn đường kính nơi rộng nhất 3,5cm, đường kính nơi nhỏ nhất là 2,5cm, một đầu vát nhọn.(Vật chứng có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng 23-8-2018).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Dung

Trần Đăng Thanh

Trần Thanh Hƣơng

Cỡ chữ