vanban.org

Bản án 37/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 02/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ H ng Việt P phạm tội “Cướp gi t tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2/- Xử phạt: 5 xử phạt: Bị cáo Đỗ H ng Việt P 06 (sáu) tháng t về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Hùng Việt Phương - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ H ng Việt P phạm tội “Cướp gi t tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƢỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS-ST
Ngày: 02-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƢỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hiến Cƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phan Thanh Thảo.

Nghề nghiệp và nơi công tác: Hiệu trưởng

Trường THCS Mỹ An hu ện Tháp Mười.

2- Ông Lê Văn Vững.

Nghề nghiệp và nơi công tác: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Nguyên– Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/10/2018 và ngà

8 tại trụ sở Tòa án Hu ện mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm

8 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm

8 và Qu ết định hoãn phiên tòa số 17/2018/HSST-QĐ ngà 5

8 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Hùng Việt P, sinh năm 97 ; HKTT B 3 khu phố

phường BA quận B thành phố Hồ Chí Minh và chỗ ở khóm D thị trấn MA, hu ện X Đồng Tháp; nghề nghiệp thợ mộc; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo thiên chúa; quốc tịch Việt Nam; con ông Đỗ Văn Z sinh năm 1937 (đã chết) và bà Ngu ễn Thị X sinh năm 941 (đã chết); có vợ tên Ngu ễn Thị I, sinh năm 97 và có người con (lớn sinh năm 996 nhỏ sinh năm

); tiền án tiền sự không; bắt tạm giam ngà 10/4/2018; bị cáo còn tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

* Người đ i di n theo pháp lu t cho b cáo:

Ông Võ Văn Đ - Phó Chủ tịch Ủ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hu ện Tháp Mười (Có mặt).

* Người bào ch a cho b cáo:

Ông Nguy n T n T - uật sư Chi nhánh Công t uật TNHH uật Hoàng và Cộng sự (Có mặt).

* Người b h i:

1. Nguy n Quan A - sinh năm: 97 .

Địa chỉ: Khóm D thị trấn MA, hu ện X tỉnh Đồng Tháp.

(Có mặt tại phiên tòa ngà 6

8 vắng mặt tại phiên tòa ngà 02/11/2018)

2. Phạm Thị Thu H

- sinh năm: 984 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Y 9 Chung cư HD Bến VĐ phường A quận D thành phố Hồ Chí Minh.

* Người làm chứng:

1. Nguy n Huỳnh F - sinh năm: 995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp MT B, xã MA hu ện X Đồng Tháp.

2. Phạm Thanh S

- sinh năm: 975 (Vắng mặt).

3. Lê Việt K

- sinh năm: 976 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Huỳnh Hữu M

- sinh năm: 978 (Vắng mặt).

5. Nguy n Hồng L - sinh năm: 98 (Vắng mặt).

6. Lê Thị Tƣ ng V - sinh năm: 97 (Vắng mặt).

C ng địa chỉ: Khóm D thị trấn MA hu ện X Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 3 phút ngày 19/02/2018, anh Ngu ễn Quan A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66H -

.98 đi đến quán cafe Giao Hưởng (địa chỉ khu dân cư khóm D thị trấn MA hu ện X) do anh Phạm Thanh S làm chủ để uống nước. Anh A vào quán ngồi uống nước c ng với anh S, anh ê Việt K và đậu xe cập lề đường lộ cách chỗ ngồi khoảng 5m gắn chìa khóa xe trên xe có để một giỏ xách bên trong đó có 3 bộ quần áo. úc nà , Đỗ H ng Việt P cũng đang uống nước tại quán nằm trên võng gần nơi anh A đậu xe. Anh A đang ngồi thì nhìn thấ P đi đến nơi đậu xe của anh rồi lên xe mở khóa khởi động má nên anh hỏi P “Mầ làm gì vậ ”, P không trả lời tăng ga điều khiển xe chạ đi. Anh A cùng anh K tru hô và điều khiển xe mô tô đuổi theo đến trước cổng Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mười không tìm thấ P nên trình báo Cơ quan Công an.

Sau khi lấ xe, P điều khiển xe theo quốc lộ N đi thành phố Hồ Chí Minh trên đường đi đến hu ện Đức Hòa ong An xe hết xăng P ghé quán cafe (không rõ tên, địa chỉ) có bán xăng để đổ lít xăng nhưng không có tiền trả P lấ giỏ đồ của anh A đưa cho người bán xăng giữ hẹn với người bán xăng đi lấ tiền trả lấ lại giỏ đồ. P điều khiển xe đến nhà người anh tên Đỗ H ng N tại quận

thành phố Hồ Chí Minh thấ nhà đóng cửa anh H ng N đi vắng P điều khiển xe đi đến khu vực phường 7 quận thành phố Hồ Chí Minh do xe hết xăng nên P bỏ xe ngoài đường rồi đi bộ và có giang người đi đường về hu ện Tháp Mười thì bị Cơ quan Công an bắt giữ. Xe mô tô biển kiểm soát 66M1- .98 đã mất không tru tìm được.

Ngoài ra, P còn có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của chị Phạm Thị Thu H. Kết quả điều tra thể hiện như sau: Anh Ngu ễn Huỳnh A F (địa chỉ ấp MT B, xã MA hu ện X) là tài xế lái xe ô tô thuê cho chị H (địa chỉ phường A, quận D, thành phố Hồ Chí Minh). Khoảng 7 giờ 3 phút ngà 4

8, anh F lái xe ô tô biển kiểm soát 5 A- 3 .44 của chị H từ thành phố Hồ Chí Minh đến thị trấn Mỹ An hu ện Tháp Mười để đón khách đi An Giang. Do chưa tới giờ rước khách, nên anh F lái xe đến đậu nhờ trên phần đất của anh Chế Phước Q ở khu dân cư khóm D thị trấn MA để chờ đến 5 giờ sáng ngà 5

8 rước khách và anh F ngủ tại nhà của anh Huỳnh Hữu M cách nơi đậu xe khoảng 4-5 mét. Đến khoảng giờ 3 phút ngà 5

8, nghe tiếng còi báo chống trộm của xe báo động anh F mở cửa nhà c ng anh M chạ ra nơi đậu xe ô tô thì phát hiện P đang d ng ta phải cầm viên đá xanh có kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg đập vào kính chắn gió bên trái cửa xe làm thủng một lỗ kính có kích thước cm x 8cm nên anh F cùng anh M bắt giữ P và báo Công an thị trấn Mỹ An.

Chị ê Thị Tường V sinh năm 97 (đia chỉ khóm D, thị trấn MA) hiện đang sống chung như vợ chồng với P trình bày, trước đâ sức khỏe của P bình thường nhưng trước ngà thực hiện hành vi phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản khoảng một tháng P có nhiều biểu hiện khác thường như: thường đòi đánh giết người; đập phá tài sản; ha nói chu ện một mình…

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số

ngà 9 4 8 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu ện Tháp Mười kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu vàng nâu biển kiểm soát 66M1- .98 trị giá . . đồng.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số

ngà 19/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu ện Tháp Mười kết luận: Kính chắn gió bên phía tài xế của xe ôtô nhãn hiệu To ota Fortuner màu xám biển kiểm soát 51A- 3 .44 trị giá 3.4 . đồng.

Tại Bản Kết uận giám định tâm thần số 9 ngà 3 5 8 của Trung tâm Pháp Y tâm thần khu vực Tâ Nam Bộ kết luận:

- Về học: Trước trong sau khi phạm tội (ngà 15/02/2018 và 9

8) và hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần: rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma tú (F 9-ICD10).

- Về năng lực: Tại các thời điểm phạm tội (ngà 5

8 và 9

8) và hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Tại công văn số 9 . PYTT ngà 3 5 8 của Trung tâm Pháp Y tâm thần khu vực Tâ Nam Bộ giải thích về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội (ngà 5

8 và 9

8) và hiện tại đương sự có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại Ngu ễn Quan A êu cầu bị cáo P bồi thường giá trị tài sản bị mất theo kết luận định giá là . . đồng bị cáo P đã bồi thường xong.

- Người bị hại Phạm Thị Thu H êu cầu bị cáo P bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận định giá là 3.4 . đồng bị cáo P đã bồi thường xong.

- Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo P (một) viên đá xanh, kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg.

Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSTM ngày 28 tháng 8 năm

8, của Viện kiểm sát hu ện Tháp Mười đã tru tố bị cáo Đỗ H ng Việt P về tội “Cướp gi t tài sản” theo khoản 1 Điều 171 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản Điều 78 của Bộ luật hình sự năm 5 sửa đổi bổ sung năm 7 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 5).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát hu ện Tháp Mười thực hiện qu ền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 17 Điều 78 của Bộ luật hình sự năm 5 đề nghị Hội đồng xét xử tu ên bố bị cáo Đỗ H ng Việt P phạm tội “Cướp gi t tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

+ Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 71; điểm b, q, s khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự năm

5 xử phạt: Bị cáo Đỗ H ng Việt P từ năm đến năm 6 tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản”.

Áp dụng khoản Điều 78; điểm b, q, s khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự năm

5 xử phạt: Bị cáo Đỗ H ng Việt P từ 6 tháng đến năm tù, về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đỗ H ng Việt P từ năm 6 tháng đến năm 6 tháng t .

+ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải qu ết xong.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 6 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 5.

Tịch thu tiêu hủ : (một) viên đá xanh kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg do không có giá trị sử dụng.

Vị uật sư bào chữa cho bị cáo P có ý kiến:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Qua lời khai của bị cáo và bị hại A thì Viện kiểm sát tru tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là có căn cứ. Riêng tội “Cướp gi t tài sản” ếu tố cấu thành tội nà theo lời khai của bị hại A thì chưa được rõ. Bởi lẽ tội “Cướp gi t tài sản” thì phải đảm bảo ếu tố công khai và nhanh chóng. Ở đâ trong cấu thành tội “Cướp gi t tài sản” ếu tố nhanh chóng là có. Riêng, êu tố công khai là chưa đủ dựa trên kết quả xét hỏi tại phiên tòa ngà 6 /2018 và ngày 02/11/2018, thì bị cáo và bị hại A đều thừa nhận chiếc xe mô tô của anh A đậu phía sau lưng bị hại A và khi bị cáo lấ xe thì bị hại A chưa phát hiện, chỉ có chủ quán ngồi mặt đối diện với xe phát hiện và ra dấu hiệu cho bị hại A biết. Do đó hành vi của bị cáo P chưa đủ ếu tố công khai đối với chủ sở hữu tài sản. Vì vậ , hành vi của bị cáo là lén lúc với chủ sở hữu, nên cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Những tình tiết giảm nhẹ hoàn toàn thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát. Riêng bị hại H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b q s khoản khoản Điều 5 và khoản Điều 78 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo và không đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát là áp dụng khoản Điều 7 của Bộ luật hình sự năm

5 xét xử bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản”, mà đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo ngu ên tắc có lợi cho bị cáo.

- Tại phiên tòa ngày 26/10/2018 và ngày 02/11/2018 bị cáo P khai: Bị cáo không nhớ rõ thời gian bị cáo đến quán cafe Giao Hưởng nằm võng thì bị cáo nghe trong lỗ tai có người nói là cho bị cáo mượn xe mô tô của anh Tám (anh A) rồi đó. Sau đó bị cáo lấ xe mô tô của anh A điều khiển lên thành phố Hồ Chí Minh. Khi bị cáo lấ xe thì xe đậu cách vị trí bị cáo nằm võng khoảng

m và trên xe vẫn còn gắn chìa khóa. Ngoài ra, vào buổi tối ngà tháng năm nào bị cáo không nhớ bị cáo đi bộ ở gần nhà bị cáo tại khu dân cư thị trấn MA, thì thấ một xe ô tô đang đậu không biết xe ai bị cáo nghe trong đầu có ai kêu bị cáo đập chiếc xe nà nên bị cáo đã cầm một viên đá đập vỡ kính chắn gió bên trái xe ô tô. Sau đó bị cáo bị một số người bắt giữ và đưa đến Công an thị trấn Mỹ An làm việc.

- Tại phiên tòa ngà 6

8 bị hại A khai: Khoảng 9 giờ 3 phút ngà 9

8 anh điều khiển xe mô tô đến quán cafe Giao Hưởng anh đậu xe mô tô trước cửa quán trên xe có gắn chìa khóa. Sau đó anh đi đến bàn ngồi uống nước trà c ng anh Phạm Thanh S và anh ê Việt K (bàn cách nơi đậu xe khoảng 5m). Anh A ngồi mặt qua vào trong quán lưng qua ra lộ còn anh K và anh S thì ngồi đối diện với anh A mặt hướng ra lộ nơi anh A đậu xe. Tại vị trí anh A ngồi thì không quan sát được xe mô tô anh đậu trước lộ vì xe đậu phía sau lưng anh. Khi bị cáo đi đến xe mô tô của anh và ngồi lên xe thì anh S phát hiện d ng ta khiều và nói với anh “Tám lấ xe ông kìa” nên anh hỏi bị cáo P làm gì đó bị cáo P không trả lời mà đề má xe chạ đi anh c ng với anh K điều khiển xe mô tô của anh K chạ đuổi theo nhưng không bắt được bị cáo P.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầ đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi Qu ết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an hu ện Tháp Mười Điều tra viên Viện kiểm sát hu ện Tháp Mười Kiểm sát viên trong quá trình điều tra tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền trình tự thủ tục qu định của Bộ luật tố tụng hình sự năm

5. Quá trình điều tra chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi qu ết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[ ] Tại phiên tòa bị cáo P khai nhận: Ngày 19/02/2018 lợi dụng sự sơ hở của anh A, bị cáo đã thực hiện hành vi lấ xe mô tô biển kiểm soát 66H - 000.98 của anh A trị giá . . đồng (theo Bản kết luận định giá tài sản số

ngà 9 4 8 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu ện Tháp Mười). Ngoài ra vào ngà 5

8 bị cáo cầm viên đá xanh có kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg đập vào kính chắn gió bên trái xe ô tô biển kiểm soát 5 A - 3 .44 của chị H gâ thiệt hại 3.4 . đồng (theo Bản kết luận định giá tài sản số 1 ngà 9 4 8 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu ện Tháp Mười).

Xét đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, hành vi của bị cáo đã đủ ếu tố cấu thành. Vì vậ , Viện kiểm sát tru tố bị cáo về tội nà là hoàn toàn có căn cứ.

Riêng đối với tội “Cướp gi t tài sản” Hội đồng xét xử nhận thấ :

Tội “Cướp gi t tài sản” về mặt khách quan của tội phạm thể hiện hành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Đối với hành vi công khai, là hành vi chiếm đoạt cho chủ sở hữu có khả năng biết nga khi hành vi nà xả ra. Điều này, tại phiên tòa theo lời khai của anh A, là ngay sau khi bị cáo lấ xe đi thì anh A đã được anh S là chủ quán phát hiện cho ha , anh A và anh K cùng đuổi theo, nên đã đảm bảo ếu tố công khai.

Riêng ếu tố nhanh chóng đâ là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội đó là thủ đoạn lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản (bị cáo lợi dụng sự sơ hở của anh A là cắm s n chìa khóa trên xe) bị cáo nhanh chóng tiếp cận để chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát.

Vì vậ Viện kiểm sát hu ện Tháp Mười tru tố bị cáo về tội “Cướp gi t tài sản” là hoàn toàn có căn cứ.

Tội phạm và hình phạt được qu định tại khoản 1 Điều 7 và khoản Điều 78 của Bộ luật hình sự năm 5 như sau:

Điều 7 Tội cướp giật tài sản.

“ . Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt t từ năm đến 5 năm”.

Điều 78 Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

“ . Người nào hủ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ . . đồng đến dưới 5 . . đồng hoặc dưới . . đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đâ thì bị phạt tiền từ . . đồng đến 5 . . đồng phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt t từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi qu định tại Điều nà mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội nà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gâ ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật cổ vật”.

Xét bị cáo P là người đã thành niên, bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần (theo Bản Kết luận giám định tâm thần số 9 ngà 3 5 8 của Trung tâm Pháp Y tâm thần khu vực Tâ Nam Bộ) nhưng bị cáo vẫn có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (Công văn số 9 . PYTT ngà 3 5 8 của Trung tâm Pháp Y tâm thần khu vực Tâ Nam) và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi cướp giật xe mô tô của anh A và đập vỡ kính chắn gió xe ô tô của chị H, nên phạm tội. Do đó cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý chẳng những xâm phạm đến qu ền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm na là cần thiết cần cách l bị cáo một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi qu ết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết “Bồi thường thi t h i, khắc phục h u quả; b cáo b h n chế khả năng nh n thức và điều khiển hành vi do b nh lý tâm thần; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là ph hợp với điểm b, q, s khoản Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 5.

Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại Ngu ễn Quan A êu cầu bị cáo P bồi thường giá trị tài sản bị mất theo kết luận định giá là . . đồng bị cáo P đã bồi thường xong. Tại phiên tòa ngà 6

8 anh A không êu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

- Người bị hại Phạm Thị Thu H êu cầu bị cáo P bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận định giá là 3.4 . đồng bị cáo P đã bồi thường xong, nên không xem xét

Về vật chứng: Căn cứ Điều 6 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 5.

Tịch thu tiêu hủ : (một) viên đá xanh kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg của bị cáo P, do không có giá trị sử dụng.

(Hiện Chi cục thi hành án dân sự hu ện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngà 3 8 8)

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật cho bị cáo người bào chữa cho bị cáo, người bị hại có qu ền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1/- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ H ng Việt P phạm tội “Cướp gi t tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2/- Xử phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, q, s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Đỗ H ng Việt P (một) năm tù về tội “Cướp gi t tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, q, s khoản Điều 5 Bộ luật hình sự năm

5 xử phạt: Bị cáo Đỗ H ng Việt P 06 (sáu) tháng t về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm

5: Tổng hợp hình phạt t của hai tội buộc bị cáo Đỗ H ng Việt P phải chấp hành là (một) năm 6 (sáu) tháng t . Thời hạn t tính từ ngà bắt tạm giam ngày 10/4/2018.

3/- Về vật chứng: Căn cứ Điều 6 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 5.

Tịch thu tiêu hủ : (một) viên đá xanh kích thước cm x 3cm cân nặng 4 kg của bị cáo Đỗ H ng Việt P.

(Hiện Chi cục thi hành án dân sự hu ện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngà 3 8 8)

4/- Về án phí: Áp dụng Điều 3 của Nghị qu ết số 3 6 6 UBTVQH 4 ngà 3

6 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ H ng Việt P phải chịu

. đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo người đại diện theo pháp luật cho bị cáo người bào chữa cho bị cáo có qu ền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 5 ngà kể từ ngà tu ên án. Riêng người bị hại có qu ền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 5 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc kể từ ngà Tòa án niêm ết bản án tại nơi cư trú.

Cỡ chữ