vanban.org

Bản án 37/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố b cáo Trần Thành Ch (P E) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt b cáo Trần Thành Ch 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự bắt b cáo để chấp hành án. Về xử lý v t chứng: Trả cho b cáo 01 chiếc xe mô tô biển số 67C1-8063, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Đỏ, số máy: DH88XE-1138212 theo biên bản giao nh n v t chứng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố b cáo Trần Thành Ch (P E) phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 37/2018/HS-ST
Ngày 29-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà ê Th H ng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Th Kim Phượng.

Bà Trương Th Thu Thủy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2018/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2018 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018, đối với b cáo:

Trần Thành Ch (P E), sinh năm 1986, tại An Giang. Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Quí, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Ph t giáo Hòa Hảo; Quốc t ch: Việt Nam; con ông Trần Văn Minh, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Th Hoa, sinh năm 1958; có vợ là ê Th Mỹ Ngọc, sinh năm 1983 (ly hôn); có 02 con, con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất 08 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; b cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trần ong H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp Vĩnh Quí, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp Vĩnh Quí, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người làm chứng: Nguyễn Văn Th (Đ), sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp Hòa Bình, xã T, huyện L, tỉnh Đ ng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 28/5/2017 Trần ong H mượn xe mô tô biển số 67B1–754.69 của Nguyễn Văn Ph để đi đến hầm cá của H thuộc khu vực ấp Vĩnh Hòa, xã V, huyện C để trả tiền công nhân. úc này Trần Thành Ch điều khiển xe cúp biển số 67C1–8063 đi theo sau H. Khi đến nơi, H dựng xe bên ngoài r i đi vào hầm cá, chìa khóa còn cắm trong xe. Ch phát hiện nên nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt xe đem cầm trả nợ. Ch lén lút lấy trộm xe chạy đi thì Nguyễn Văn Th (Đ) phát hiện nên báo cho H. H và Ph đi tìm Ch nhưng không gặp. Sau đó, H và Ph đến Công an xã V tố cáo hành vi của Ch.

Sau khi lấy trộm, Ch chạy xe đến Gò Tà Mâu (Campuchia) cầm cho người lạ (không rõ họ, tên, đ a chỉ) với giá 7.000.000 đ ng, r i đánh bạc thua hết. Sau thời gian bỏ trốn b truy nã, ngày 11/9/2018 Ch đến Công an huyện C đầu thú.

Trước đó, Trần Thành Ch còn có hành vi mượn xe mô tô của người khác đem cầm. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã ra Quyết đ nh khởi tố vụ án, khởi tố b can ngày 26/7/2017 đối với Trần Thành Ch với hành vi “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

ời khai của b hại Trần ong H phù hợp với lời khai của b cáo, người làm chứng và phù hợp với nội dung vụ án. Trần Thành Ch sau khi lấy trộm xe đã b i thường xong cho Nguyễn Văn Ph, nên H bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với Ch.

ời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan Nguyễn Văn Ph trình bày: Xe mô tô biển số 67B1–754.69 của Ph cho H mượn. Ch đã lấy trộm, sau khi phát hiện Ch đã b i thường xong cho Ph số tiền 9.200.000 đ ng. Ph bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự, dân sự đối với Ch.

ời khai của người làm chứng Nguyễn Văn Th (Đ) trình bày phù hợp với lời khai của b cáo, b hại, người liên quan và phù hợp với nội dung vụ án.

Căn cứ Bản kết lu n đ nh giá số: 21/KL-ĐGTS ngày 19/6/2017 của Hội đ ng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác đ nh: 01 xe mô tô hiệu Wave alpha biển số 67B1–754.69, màu đỏ Đ, số máy: HC 12B 1332146, số khung: 12149Y131257, dung tích: 50-175cm3, đã qua sử dụng, xe còn 70% giá tr , có giá: 13.000.000 đ ng x 70% = 9.100.000 đ ng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, b hại không ý kiến hay khiếu nại về kết lu n giám đ nh nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS.CP ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Trần Thành Ch về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ lu t Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố hành vi của b cáo Trần Thành Ch đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 vì theo Bộ lu t Hình sự hiện hành có lợi hơn cho b cáo.

Về trách nhiệm hình sự: B cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của công dân được pháp lu t bảo vệ, ngoài ra b cáo có nhân thân xấu b Công an thành phố Châu Đốc khởi tố vụ án, khởi tố b can về tội “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi của b cáo để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình, đề ngh Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo do tại phiên tòa cũng như trong giai đoạn điều tra b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục h u quả xong và trong thời gian Công an truy nã b cáo đã trở về đầu thú, b hại, người liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo. Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề ngh : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt b cáo Ch từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Xét thấy b cáo chưa có nghề nghiệp ổn đ nh lại không có tài sản nên đề ngh không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do b cáo đã b i thường xong nên b hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu b i thường thiệt hại nên đề ngh không xem xét.

Về xử lý v t chứng:

- 01 xe mô tô biển số 67B1-754.69, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Đỏ Đ, số máy: HC 12B1332146, số khung: 12149Y131257, của Nguyễn Văn Ph b cáo đem cầm cho một người lạ, Công an chưa thu Hi được, vụ việc này sẽ xử lý sau.

- 01 chiếc xe mô tô biển số 67C1-8063, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Đỏ, số máy: DH88XE-1138212, của b cáo đề ngh trả lại cho b cáo.

Hành vi xuất cảnh trái phép sang Camphuchia để đánh bạc của b cáo Ch là vi phạm pháp lu t nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi đánh bạc xảy ra trên lãnh thổ Campuchia và chỉ do Ch khai nh n nên chưa đủ căn cứ chứng minh. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý Ch về hành vi này là có căn cứ.

Tại phiên tòa, b cáo Trần Thành Ch thừa nh n nội dung bản cáo trạng là đúng với hành vi mà b cáo thực hiện. B cáo biết được hành vi của mình là phạm pháp, đã ăn năn hối h n, không tranh lu n. Lời nói sau cùng b cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin cho được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, b hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n đ nh như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tính hợp pháp của hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy đ nh của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo, b hại, người liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều tuân thủ đúng quy đ nh pháp lu t.

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo đúng quy đ nh, người làm chứng vắng mặt không lý do, lời khai của người làm chứng đã có tại giai đoạn điều tra nên Hội đ ng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng theo quy đ nh tại Điều 293 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015.

Về áp dụng lu t giải quyết: So sánh Điều 138 Bộ lu t Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 và Điều 173 Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, thì Điều 173 Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù, trong khi mức hình phạt cao nhất của Điều 138 Bộ lu t Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 là chung thân, nên Điều 173 quy đ nh hình phạt nhẹ hơn. Hành vi phạm tội của b cáo xảy ra ngày 15/7/2017 trước ngày Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành. Theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 7 của Bộ lu t này quy đ nh: “Điều lu t xóa bỏ một tội, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy đ nh một hình phạt nhẹ hơn......và quy đ nh khác có lợi cho người phạm tội, thì áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều lu t đó có hiệu lực thi hành”. Do đó, Tòa án áp dụng Bộ lu t hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử b cáo là phù hợp quy đ nh pháp lu t.

Về nội dung vụ án:

Về trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa b cáo Trần Thành Ch khai nh n: Ngày 28/5/2017 do b cáo nợ tiền bên ngoài nên có hỏi mượn tiền anh ruột là H để trả nợ nhưng H không cho, H chạy xe ra hầm cá (xe H mượn của Ph), b cáo chạy theo để mượn tiền. úc này b cáo thấy H dựng xe trên bờ mà vẫn cắm chìa nên b cáo nảy sinh ý đ nh trộm, sau khi trộm được xe b cáo chạy đến Gò Tà Mâu cầm cho một người lạ với giá 7.000.000 đ ng, số tiền này b cáo đánh bạc thua hết. Sau đó, b cáo đi Bình Dương làm thuê, khi b cáo về thăm con b cáo mới biết mình b truy nã nên b cáo ra đầu thú ngày 11/9/2018. ời khai nh n của b cáo Ch phù hợp với lời khai của b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ vụ án.

Căn cứ kết lu n của Hội đ ng đ nh giá trong tố tụng hình sự, giá tr tài sản b cáo Ch chiếm đoạt của H là 9.100.000 đ ng. Theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người nào trộm cắp tài sản của người khác tr giá từ 2.000.000 đ ng đến dưới 50.000.000 đ ng hoặc…..thì b phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm….”.

Như v y, đã có đủ cơ sở kết lu n b cáo Trần Thành Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố b cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp lu t. Do đó, b cáo phải ch u trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.

Về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tài sản hợp pháp của công dân là một trong những đối tượng được pháp lu t bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều b xử lý nghiêm minh trước pháp lu t.

Xét b cáo Trần Thành Ch là người đã thành niên, có đầy đủ nh n thức, có sức khỏe để lao động làm ăn chân Chnh nuôi sống bản thân, tạo dựng cuộc sống có ích cho gia đình và xã hội, nhưng b cáo lười lao động, ham chơi cờ bạc, muốn có tiền nhanh để tiêu xài, cờ bạc thỏa mãn nhu cầu bản thân mà không phải tốn nhiều công sức lao động, b cáo đã bất chấp pháp lu t, biết trộm tài sản của người khác là hành vi trái pháp lu t nhưng b cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của b cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của b hại, vi phạm pháp lu t của Nhà nước, gây mất tr t tự tr an tại đ a phương, gây hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân, tài sản chiếm đoạt có giá tr là 9.100.000 đ ng. B cáo có nhân thân xấu đang b Công an thành phố C Đ khởi tố vụ án, khởi tố b can về tội: “ ừa đảo chiếm đoạt tài sản”. ẽ ra, khi phạm tội b cáo phải tự thú nhưng b cáo không làm v y mà bỏ trốn đi Bình Dương một thời gian dài, đến khi b truy nã b cáo mới chở về đầu thú, nên cần cách ly b cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo b cáo thành người tốt và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, cũng có xem xét cho b cáo nhân thân chưa tiền án, tiền sự; trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thấy được tội lỗi của bản thân mà thành th t khai báo, thành khẩn nh n tội, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; khắc phục h u quả xong; đầu thú và được b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo. Đây là những tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đ ng xét xử giảm nhẹ cho b cáo một phần khi quyết đ nh hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người phạm tội còn có thể b phạt tiền từ 5.000.000 đ ng đến 50.000.000 đ ng”. Xét b cáo làm thuê không có tài sản, nên Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.

Các biện pháp tư pháp khác

Về trách nhiệm dân sự:

B hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu b i thường do b cáo đã b i thường xong nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Xử lý v t chứng:

Đối với tang v t là chiếc xe biển số 67B1–754.69, sau khi b cáo trộm, b cáo cầm cho một người khác không rõ lai l ch, Công an chưa thu Hi được, vụ việc này sẽ xử lý sau.

Đối với tang v t là chiếc xe biển số 67C1–8063 của b cáo, b cáo dùng chiếc xe đó để làm phương tiện đi lại, b cáo sử dụng chiếc xe đó chạy theo H để mượn tiền nhưng khi phát hiện ra chìa khóa vẫn còn cắm trên xe, lúc này b cáo mới nảy sinh ý đ nh trộm xe. Do đó, chiếc xe mà b cáo để lại hiện trường không phải là phương tiện phạm tội nên cần trả cho b cáo.

Hành vi xuất cảnh trái phép sang Camphuchia để đánh bạc của b cáo Ch là vi phạm pháp lu t nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi đánh bạc xảy ra trên lãnh thổ Campuchia và chỉ do Ch khai nh n nên chưa đủ căn cứ chứng minh. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý Ch về hành vi này là có căn cứ.

Về án phí: B cáo Trần Thành Ch phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 48, Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố b cáo Trần Thành Ch (P E) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt b cáo Trần Thành Ch 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự bắt b cáo để chấp hành án.

3. Về xử lý v t chứng: Trả cho b cáo 01 chiếc xe mô tô biển số 67C1-8063, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: Đỏ, số máy: DH88XE-1138212 theo biên bản giao nh n v t chứng ngày 28/11/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

4. Về án phí: B cáo Trần Thành Ch phải ch u 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

5. B cáo, b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- B cáo (1);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh An Giang (1);

- VKSND tỉnh An Giang (1);

- VKSND huyện C (1);

- Nhà tạm giữ, THAHS CA HCP (2);

- Bộ ph n THA Tòa án (1);

- CCTHADS huyện C (2);

- Phòng H sơ (1);

- Sở Tư Pháp tỉnh An Giang (1);

- ưu H sơ (1);

Lê Thị Hng Thi

- ưu VT (1). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Phƣợng Trƣơng Thị Thu Thủy Lê Thị Hng Thi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- B cáo (1);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh An Giang (1);

- VKSND tỉnh An Giang (1);

- VKSND huyện C (1);

- Nhà tạm giữ, THAHS CA HCP (2);

- Bộ ph n THA Tòa án (1);

- CCTHADS huyện C (2);

- Phòng H sơ (1);

- Sở Tư Pháp tỉnh An Giang (1);

- ưu H sơ (1);

Lê Thị Hng Thi

- ưu VT (1).

Cỡ chữ