vanban.org

Bản án 37/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 10/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Huy P và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT. 2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Huy P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS-PT
Ngày: 10-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-TH phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Chín.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Ánh Tuyết và ông Đặng Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái - Là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 30/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Lữ Huy P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân TH phố PT, tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo: Lữ Huy P - sinh năm 1985, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 5, phường Đức Nghĩa, TH phố PT, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khu phố C, phường Thanh Hải, TH phố PT, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nm; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lữ Liên T (chết), bà Nguyễn Thị Thanh H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Ngoài ra còn có bị cáo Phạm Anh T không kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 23/6/2016, Lữ Huy P bàn bạc, thống nhất cùng Phạm Anh T đi đến nhà anh Trần Mạnh TH tại số nhà 379A/2 đường Hải Thượng Lãn Ông để trộm cắp tài sản. P dùng xe mô tô biển số 86S2-6582 để chở T đi đến nhà anh TH. Tại đây, P đứng ngoài cảnh giới để T trèo tường đột nhập vào nhà anh TH. Một lúc sau, T đi ra nói với P trộm được 01 con chim chích chòe lửa, rồi cả hai lên xe mô tô bỏ đi. Khi đi ra ngoài hẻm thì P và T gặp anh TH, thấy nghi vấn anh TH đã dùng điện thoại di động chụp lại biển số xe mô tô của P, sau đó nói với anh Mai Duy N là người làm cây cảnh cho anh TH cùng quay về nhà để kiểm tra xem thì phát hiện bị mất 01 con chim chích chòe lửa còn anh N bị mất 01 điện thoại di động hiệu Nokia Lumia màu đen.

Sau khi rời nhà anh TH, T và P đi đến nhà anh Lê Quang PH là người buôn bán chim cảnh và bán cho anh PH con chim chích chòe lửa với giá 300.000đồng. Sau đó T nói với P là còn trộm được 01 điện thoại đi động hiệu Nokia tại nhà anh TH, cả hai tiếp tục đi đến cửa hàng điện thoại di động Minh Râu trên đường Lê Thị Hồng Gấm bán cho anh Mai Văn Ng là chủ tiệm với giá 300.000đồng. Số tiền trên các đối tượng đã tiêu xài hết.

Từ biển số xe anh TH chụp được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PT đã triệu tập P lên làm việc, tại đây P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra, P và T khai nhận vào ngày 02/6/2016 đã đến nhà anh TH với thủ đoạn như trên các đối tượng đã trộm cắp được 02 lồng chim cảnh (01 chim cu gáy, 01 chích chòe lửa) sau đó đem bán với giá 850.000đồng và tiêu xài hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PT đã trưng cầu định giá đối với tài sản các đối tượng trộm cắp được:

Kết luận định giá số 74 ngày 06/7/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng thành phố PT đối với chiếc điện thoại di động của anh Mai Duy N bị chiếm đoạt: 01 điện thoại di động hiệu Nokia số Imei 35669105094800 - Đơn giá 3.990.000 đồng - Tỷ lệ sử dụng 60% - Giá trị định giá 2.394.000đồng.

Kết luận định giá tài sản số 137 ngày 11/11/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố PT đối với chim cảnh: 01 con chim cảnh loại chích chòe lửa - Giá trị: 300.000đồng.

Như vậy tổng giá trị tài sản mà Lữ Huy P và Phạm Anh T trộm cắp tại nhà anh Trần Mạnh TH vào ngày 23/6/2016 là 2.694.000đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố PT cũng đã trưng cầu định giá tài sản đối với 02 lồng chim và 02 con chim cảnh Lữ Huy P cùng Phạm Anh T đã chiếm đoạt của anh Trần Mạnh TH vào ngày 02/6/2016. Tại Kết luận định giá tài sản số 138 ngày 11/11/2016 của Hội đồng định giá trong tố tụng TH phố PT:

- 01 con chim cảnh loại chích chòe lửa 300.000đồng;

- 01 con chim cảnh loại cu cườm 300.000đồng;

- 01 lồng chim bằng kim loại Inox 600.000đồng;

- 01 lồng chim bằng tre 600.000đồng.

Tổng giá trị tài sản các đối tượng đã chiếm đoạt của anh TH vào ngày 02/6/2016 là 1.800.000đồng

Qua xác minh xe mô tô biển số 86S2-6582 là của bà Nguyễn Thị Thanh H (mẹ ruột của P), vào ngày 23/6/2016 khi P sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội thì bà H không biết, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố PT đã trả lại tài sản trên cho bà Nguyễn Thị Thanh H.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Mạnh TH, anh Mai Duy N, anh Lê Quang PH và anh Mai Văn Ng đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Huy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lữ Huy P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Phạm Anh T 09 tháng tù về tội trên và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T; các quyết định khác về án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 05 tháng 02 năm 2018, bị cáo Lữ Huy P kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.

- Ý kiến của bị cáo Lữ Huy P: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lữ Huy P thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ ngày 23/6/2016, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Lữ Huy P cùng Phạm Anh T đã đột nhập vào nhà anh Trần Mạnh TH, tại số nhà 379A/2 đường Hải Thưọng Lãn Ông, lấy trộm 01 chiếc điện thoai di động hiệu Nokia trị giá 2.394.000đồng của anh Mai Duy N là người làm thuê cho anh TH và 01 con chim chích chòe lửa trị giá 300.000đồng. Sau đó đem bán chiếc điện thoại và con chim được 600.000đồng lấy tiền tiêu xài.

Ngoài ra, vào ngày 02/6/2016, P và T đột nhập vào nhà anh TH trộm cắp 01 lồng chim cu cườm và 01 lồng chim chích chòe lửa có tổng giá trị là 1.800.000 đồng. Sau khi sự việc bị phát hiện, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại tài sản cho bị hại và người liên quan. Bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, với mức án phạt 09 tháng tù.

Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã xử phạt bị cáo Lữ Huy P 09 tháng tù là thỏa đáng, không nặng là đủ để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo Lữ Huy P kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không có căn cứ nào khác ngoài những căn cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng. Với những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ theo Bộ luật Hình sự để xem xét chấp nhận mà giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lữ Huy P và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 24/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT.

2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Lữ Huy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lữ Huy P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3/ Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lữ Huy P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/5/2018).

Cỡ chữ