vanban.org

Bản án 37/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 20/08/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Gia P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Gia P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Gia P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HS– PT
Ngày: 20/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nghiêm Thị Lượng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Ông Nguyễn Hữu Hòa.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Văn Khuyến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2018/TLPT – HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Gia P do có kháng cáo của bị cáo P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Gia P, sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: Thôn Nh, xã Nh, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Gia S, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị C, sinh năm 1973; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/12/2017; hiện tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Phạm Tiến Q – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Q – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Bị cáo không có kháng cáo được Tòa án triệu tập:

Đỗ Trọng N, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Nh, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Cẩm – Tổng cục VIII, Bộ công an; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo được Tòa án triệu tập: Anh Đào Duy Th, sinh năm 1972; trú tại: thôn H, xã Nh, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1991; trú tại: thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

2. Anh Trần Văn Ng, sinh năm 1992; trú tại: thôn D, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21h45’, ngày 18/12/2017, tại chỗ ở của Đỗ Trọng N, tổ công tác Công an huyện Gia Bình phối hợp Công an xã Nh bắt quả tang Nguyễn Gia P có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đào Duy Th. Quá trình bắt quả tang, Th tự giác giao nộp từ túi quần một túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 (hai) túi nilon màu trắng, một túi chứa chất tinh thể màu trắng và một túi chứa 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng (niêm phong ký hiệu M1), Th khai nhận đây là số ma tuý Th đã thoả thuận mua của Đỗ Trọng N với giá 600.000 đồng, gói ma tuý này do P vừa ném cho Th. Thu giữ tại túi áo ngực của P một túi nilon màu trắng bên trong chứa 04 viên nén hình bình hành màu xanh (niêm phong ký hiệu M2), P khai là túi thuốc giảm đau P mua để sử dụng. Thu giữ tại túi quần N đang mặc số tiền 600.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), N khai là tiền Th trả để mua ma tuý. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của N số tiền 900.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đã qua sử dụng, thu giữ của Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 19/12/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Bình đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N và P. Tại nơi ở của Đỗ Trọng N thu giữ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng trong túi vải thổ cẩm đặt trên ghế sô pha tại gác xép nhà N (niêm phong ký hiệu M3); Thu giữ trong bao đựng kính màu nâu dưới chân ghế sô pha 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 08 túi nilon màu trắng kẻ xanh, trong các túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 09 viên nén hình tròn màu hồng và 01 ống nhựa màu trắng bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng (niêm phong ký hiệu M4). Thu giữ 01 túi ống nhựa; 02 cóong thuỷ tinh, 01 bộ dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma tuý tổng hợp tại mặt bàn uống nước, thu tại nền gác xép 01 bình ga mini có gắn khò ga; thu giữ tại ghế sô pha 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các túi nilon nhỏ màu trắng có kẻ xanh. Khám xét nơi ở của Nguyễn Gia P không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 75/KLGĐ-PC54 ngày 19/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0167 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Chất Methamphetamine;

+ 03 (ba) viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,2732 gam; là ma tuý, loại ma tuý: Chất Methamphetamine;

+ 04 (bốn) viên nén hình bình hành màu xanh bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,3655 gam; có chất ma tuý Methamphetamine ở dạng vết;

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M3 có khối lượng 0,4265 gam; không tìm thấy chất ma tuý bên trong mẫu vậy gửi giám định;

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 08 (tám) túi nilon màu trắng có kẻ xanh trong phong bì thư ký hiệu M4 có khối lượng 0,8044 gam là ma tuý; loại ma tuý: Chất Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M4 có khối lượng 0,7826 gam; là ma tuý; loại ma tuý: chất Methamphetamine.

+ 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M4 có khối lượng 0,8508 gam; là ma tuý; loại ma tuý: chất Methamphetamine.

+ 10 (mười) viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 (một) ống nhựa màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M4 có khối lượng 0,9456 gam; là ma tuý; loại ma tuý: chất Methamphetamine.

Ngày 20/12/2017, cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Bình có công văn số 60 đề nghị Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giải thích rõ nội dung kết luận “có chất ma tuý Methamphetamine ở dạng vết” đối với 04 (bốn) viên nén hình bình hành màu xanh trong phong bì thư ký hiệu M2.

Tại công văn số 38 ngày 31/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lời như sau: “Lượng ma tuý Methamphetamine trong mẫu vật gửi giám định 04 (bốn) viên nén hình bình hành màu xanh rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp giám định không đủ cơ sở để xác định khối lượng mà chỉ xác định được ở dạng vết vi vết”.

Với nội dung trên, Bản án số 19/2018/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Đỗ Trọng N và Nguyễn Gia P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt: Nguyễn Gia P 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2017. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với bị cáo N, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/6/2018, bị cáo Nguyễn Gia P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo P chỉ thừa nhận buổi chiều ngày 18/12/2017 có đi lấy đồ cho N, N có đưa cho bị cáo hơn 2 triệu đồng, bị cáo không biết đồ là ma túy. Tại nhà N, bị cáo có cầm túi nilon mà N nhờ ném cho Th nhưng bản thân P không biết đó là ma túy. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo đã bị bức cung, bị đánh nên ban đầu có nhận tội. Bị cáo bị oan, đề nghị HĐXX xem xét.

Bị cáo N khai: Ngày 18/12/2017, sau khi Th gọi điện hỏi mua ma túy, N nói cho T và P biết Th gọi mua ma túy và N để sẵn trên mặt bàn 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 túi nilon, 01 túi chứa ma túy đá và 01 túi chứa 03 viên ma túy ngựa và bảo P khi nào Th đến thì mang xuống cho Th và lấy đủ 600.000đ, không cho Th chịu, P đồng ý. Khi N đến thì P cầm gói ma túy xuống gặp Th. Khi P lên để trên mặt bàn số tiền 600.000đ và nói “Th muốn lên chơi ở trên này” nhưng N không đồng ý. Sau đó P cầm gói ma túy ra lan can ném xuống cho Th. Th nhặt gói ma túy đút vào túi quần thì Công an bắt quả tang. Về nguồn gốc số ma túy, do buổi chiều cùng ngày N đưa cho P khoảng hơn 2 triệu đồng để đi mua ma túy, sau khi P mua về N ngồi chia nhỏ số ma túy để bán, có T và P chứng kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm: Tại phiên tòa sơ thẩm và cũng như phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P đều chối tội và không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo P phù hợp với lời khai của Đào Duy Th và Nguyễn Đình T, do vậy có đủ cơ sở kết luận P đã đồng phạm giúp Trần Văn Ng bán ma túy cho Đào Duy Th vào tối ngày 18/12/2017 tại nhà N. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan, do vậy đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bào chữa cho bị cáo, Luật sư cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ như Biên bản phạm tội quả tang không thể hiện thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại và 01 chiếc xe máy của P (mặc dù sau đó CQĐT đã trả lại cho bị cáo). Không thu giữ list điện thoại của P và N. Nhật ký của chiếc điện thoại của mẹ bị cáo khi CQĐT trả lại đã bị xóa nên ảnh hưởng đến việc xem xét hành vi phạm tội của bị cáo. Có dấu hiệu P bị bức cung, nhục hình. Về tội danh, cấp sơ thẩm kết tội P không có căn cứ, đề nghị HĐXX tuyên bố P không phạm tội và trả tự do cho bị cáo. Bị cáo P nhất trí với bào chữa của Luật sư.

Đối đáp với ý kiến của Luật sư và bị cáo, đại diện VKS khẳng định toàn bộ vật chứng của vụ án thu giữ đều thể hiện tại biên bản phạm tội quả tang. Đối với điện thoại và xe máy khi bị bắt P khai của mẹ P, do không liên quan đến tội phạm nên CQĐT đã trả lại ngay cho mẹ của P, vì vậy không vi phạm về thủ tục tố tụng. Về việc bị cáo khai bị ép cung, đánh đập, hồ sơ thể hiện ngoài ĐTV lấy cung thì còn có KSV cũng trực tiếp lấy lời khai của bị cáo (BL 165-166), tại lời khai này bị cáo nhận tội và cũng không khai bị ép cung, nhục hình. Quá trình kiểm sát điều tra, KSV cấp sơ thẩm đã xác minh nhưng cũng không có căn cứ như lời khai của bị cáo. Sau khi nhận được khiếu nại của Luật sư, VKSND tỉnh cũng đã tiến hành xác minh và đã có văn bản trả lời số 152 ngày 30/5/2018 là không có căn cứ. Các vấn đề khác VKS giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo P, HĐXX nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Gia P không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên HĐXX thấy lời khai ban đầu P đều thừa nhận hành vi giúp bị cáo N bán ma tuý cho Th với số tiền là 600.000 đồng thể hiện tại các bản tự khai (BL 148, 150, 151); biên bản ghi lời khai ngày 20/12/2017; ngày 25/12/2017 (BL từ 161 đến 166) P khai: “…N nghe điện thoại xong thì có nói với tôi là Th Chùa điện hỏi lấy ma túy. Sau đó anh N đưa cho tôi một gói ma túy nhỏ và bảo tôi Th đến thì đưa cho Th và lấy tiền. Tôi đồng ý và cầm gói ma túy. Khoảng một lúc sau thì tôi thấy Th đi cùng một người nữa. Th đưa cho tôi 600.000 đồng…Tôi cầm gói ma túy và vứt từ trên gác xép xuống cho Th, đúng lúc này lực lượng công an vào bắt quả tang”. Người làm chứng là anh T có mặt tại nhà N tại thời điểm N và P bán ma túy cho Th khai: Khi Th đến mua ma túy, Trọng N đã nhờ P nhận tiền và sau đó P ném ma túy từ trên gác xép xuống dưới nhà cho Th (BL 79- 84). Lời khai của anh T phù hợp với lời khai của Trọng N, Th và Văn Ng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị án Đỗ Trọng N vẫn khẳng định chiều và tối ngày 18/12/2018, N có đưa hơn 2 triệu đồng cho P đi mua ma túy hộ và sau đó có nhờ đưa ma túy cho Th. Bị cáo không có mâu thuẫn gì với P.

HĐXX nhận thấy, mặc dù bị cáo P không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên căn cứ vào lời khai của bị cáo N phù hợp với bản tự khai và lời khai ban đầu của bị cáo P tại CQĐT; phù hợp với lời khai của Đào Duy Th và những người làm chứng gồm anh Nguyễn Đình T và Trần Văn Ng. Do vậy HĐXX thấy có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 18/12/2017, tại nhà Đỗ Trọng N, Nguyễn Gia P đã có hành vi giúp N bán trái phép 01 túi nilon ma túy đá và 03 viên ma túy ngựa có tổng trọng lượng là 0,2899 gam, loại ma túy: Chất Methamphetamine cho Đào Duy Th với giá 600.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo P và luật sư bào chữa cho P đều cho rằng cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Gia Bình có một số vi phạm về tố tụng và bị cáo bị ép cung, nhục hình. Các vấn đề này đã được làm rõ tại giai đoạn sơ thẩm và đại diện VKSND tỉnh đã đối đáp tại phiên tòa hôm nay, việc bị cáo bị ép cung, nhục hình là không có căn cứ.

HĐXX thấy Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Gia P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, không oan. Do vậy cần bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo chỉ kháng cáo kêu oan, vì vậy về hình phạt HĐXX không xét.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Gia P, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; khoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Gia P 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2017.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bị cáo Nguyễn Gia P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ