vanban.org

Bản án 37/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Văn T được ly hôn cùng chị Nguyễn Thị Thùy Tr.

Về nuôi con chung: Không đặt ra. Về chia tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tùng - Trang"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Văn T được ly hôn cùng chị Nguyễn Thị Thùy Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt chị Tr; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2018/HNGĐ-ST
Ngày 23-5-2018
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hồng Thắm.

Ông Võ Quốc Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2018/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1991; cư trú tại ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm 1991; cư trú tại K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Tạm trú ấp C, xã Đ1, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 3 năm 2018 của anh Lê Văn T và quá trình tiến hành tố tụng tại Tòa án anh T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thùy Tr tự nguyện kết hôn vào năm 2011, đến ngày 08/8/2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do không có sự thống nhất về nơi ở, sinh sống của vợ chồng dẫn đến bất đồng quan điểm và làm cho cuộc sống không hạnh phúc nên vợ chồng tự sống riêng từ cuối năm 2014 đến nay. Gia đình hai bên đã giải quyết nhưng không đạt được hiệu quả, thời gian kéo dài không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Tr.

Về con chung chưa có nên anh không yêu cầu.

Về tài sản anh không yêu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai và đơn yêu cầu vắng mặt ngày 10 tháng 4 năm 2018 của chị Nguyễn Thị Thùy Tr trình bày: Chị xác định thời gian kết hôn với anh T vào năm 2012, trong cuộc sống do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, bản thân anh T không làm ăn dẫn đến mâu thuẫn xảy ra và không giải quyết được nên anh chị tự sống riêng từ cuối năm 2014. Hiện tại, tình cảm giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị chấp nhận ly hôn cùng anh T.

Về phần con chung và tài sản chị xác định không có và không đặt ra yêu cầu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng pháp luật. Đề nghị ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh T và chị Tr, về con chung và tài sản không đặt ra, buộc anh T chị án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của anh Lê Văn T được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Thùy Tr có đơn yêu cầu vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt chị Tr.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Thùy Trg được xác lập vào năm 2011 và đến ngày 08/8/2014 thực hiện việc đăng ký kết hôn theo luật định nên hôn nhân được xác định là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. Thời gian anh T và chị Tr chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng và không tạo được lòng tin đối với nhau. Bản thân anh T và chị Tr đều không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong khi đó phía chị Tr đồng ý ly hôn cùng anh T nên chấp nhận yêu cầu của anh T được ly hôn với chị Tr là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, anh T và chị Tr chưa có con chung và các đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

Về án phí: Anh Lê Văn T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh T đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thùy Tr;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Văn T được ly hôn cùng chị Nguyễn Thị Thùy Tr.

Về nuôi con chung: Không đặt ra.

Về chia tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng, anh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014134 ngày 21/3/2018 được khấu trừ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ