- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN LY HÔN L-H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Thiều Nguyên H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2018. V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Long
Bà Bùi Bích Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 99/2018/TLS-HNGĐ, ngày 18 tháng 5 năm 2018 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 6 năm 2018 và quyết định hoãn phiên toà số 27/2018/HNGĐ-ST, ngày 13/6/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị L, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Thiều Nguyên H, vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn T, xã L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị L trình bày: Chị kết hôn với anh H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh H ham mê cờ bạc dẫn đến phá tán tài sản gia đình. Sự việc xảy ra chị L đã khuyên bảo anh H nhưng anh không nghe mà còn đánh đập chị nhiều lần, vì vậy chị đã bỏ nhà đi làm ăn xa được khoảng 6 tháng và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị L xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H.
Về con chung: Chị L và anh H có 01 con tên là Thiều Xuân Thái B,
sinh ngày 11/4/2013. Khi ly hôn chị L nhất trí để anh H trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chị L sẽ chu cấp theo khả năng của mình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Thiều Nguyên H trình bày trong các lời khai như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn cũng như cô L đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H cũng có lúc đánh bạc bị thua nên vợ chồng xảy ra cãi nhau, trong lúc nóng giận có lần anh H đã đánh chị L. Tuy nhiên sau đó anh H đã xin lỗi chị L và vợ chồng vẫn sống với nhau bình thường nhưng từ khi chị L đi làm ăn xa được khoảng 4 đến 5 tháng thì về xin ly hôn vì vậy anh H không nhất trí.
Về con chung: Anh H xác nhận có 01 con tên là Thiều Xuân Thái B, sinh ngày 11/4/2013. Khi ly hôn anh H nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh H tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên là đúng thẩm quyền về lãnh thổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Thư ký và Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 và Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị L và anh Thiều Nguyên H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến Ủy ban nhân dân xã L, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đăng ký kết hôn năm 2016 theo đúng quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn chị L và anh H sống không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H ham mê cờ bạc và có hành vi bạo lực gia đình nên chị L đã bỏ đi làm ăn xa được khoảng 6 tháng nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L xin được ly hôn anh H là có căn cứ.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”
Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy chị L xin ly hôn anh H là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Chị Triệu Thị L và anh Thiều Nguyên H có 01 con chung tên là Thiều Xuân Thái B, sinh ngày 11/4/2013, hiện cháu đang ở với anh H. Khi ly hôn anh H nhận trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con và chị L cũng nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Triệu Thị L và anh Thiều Nguyên H tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Triệu Thị L phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UB-TVQH -14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là đúng pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 72, khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Thiều Nguyên H.
2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Thiều Nguyên H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thiều Xuân Thái B, sinh ngày 11/4/2013, chị Triệu Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Triệu Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0000933, ngày 08/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. [
| Nơi nhận - TAND tỉnhYên Bái; - VKSND huyện Lục Yên; - THADS huyện Lục Yên; - Các đương sự; - UBND xã L; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đăng Ninh |