- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Thu C đối với ông Đỗ Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27- 4 - 2018 V/v tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Sơn
2. Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Mai Sương- Thư ký tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ hành Sơn, TP. Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2017/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXX- ST ngày 13 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu C. Sinh năm: 1987 Trú tại: Tổ 03, S, phường H, quận N, TP. Đà Nẵng - Có mặt. 2. Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc T. Sinh năm: 1985 Trú tại: Tổ 03, S, phường H, quận N, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2017, bản trình bày và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thu C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Ngọc T kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bình Định, hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại tổ 03, phường H, quận N, TP. Đà Nẵng. Đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường đánh đập vợ con, hiện nay hai vợ chồng không còn phù hợp về mọi mặt, không còn hạnh phúc, nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đỗ Ngọc T.
- Về quan hệ con chung: Bà xác nhận, bà và ông T có 01 người con chung, tên Đỗ Huỳnh Nhật K, sinh ngày 04/9/2016. Ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi con Đỗ Huỳnh Nhật K và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Bà xác nhận không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà xác nhận không có nợ chung.
Bị đơn Đỗ Ngọc T đã được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông T trình bày ý kiến, cung cấp các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng ông T vẫn vắng mặt nên tòa án không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn là ông Đỗ Ngọc T đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 35; 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn và nuôi con chung của bà Huỳnh Thị Thu C đối với ông Đỗ Ngọc T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu C được ly hôn với ông Đỗ Ngọc T.
Về con chung: Giao con Đỗ Huỳnh Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho bà Huỳnh Thị Thu C trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đỗ Ngọc T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu C nộp tại Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn là ông Đỗ Ngọc T vắng mặt không có lý do. Xét thấy trong qúa trình giải quyết vụ án, tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]
Về nội dung vụ án: Bà Huỳnh Thị Thu C và ông Đỗ Ngọc T kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bình Định, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là đôi hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống với nhau đến năm 2017 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo khai nại của bà C thì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường đánh đập vợ con, hai vợ chồng không còn phù hợp về mọi mặt, không còn hạnh phúc riêng với nhau từ đó đến nay.
Qua quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T tồn tại nhưng không thực sự hạnh phúc, cả hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 đến nay, giữa họ chỉ có trên danh nghĩa vợ chồng, đã từ lâu không còn trách nhiệm gì với nhau, bà C cho rằng tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do ông T thường đánh đập vợ con.
Tại phiên tòa, bà C cương quyết xin được ly hôn ông T, còn ông T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.
Qua điều tra, xác minh tại địa phương cho thấy bà Huỳnh Thị Thu C và ông Đỗ Ngọc T sau khi kết hôn về sinh sống tại tổ 03 phường H, quận N, TP. Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ đánh nhau ảnh hưởng đến làng xóm; vào tháng 10/2017 hai vợ chồng ông T và bà C có mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau có mời Công an phường Hòa Hải xuống giải quyết, tổ dân phố và gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng tình trạng quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng đến nay vẫn chưa được cải thiện.
Hội đồng xét xử xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như như đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ. [3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Huỳnh Thị Thu C và ông Đỗ Ngọc T thực sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận cho bà Huỳnh Thị Thu C được ly hôn ông Đỗ Ngọc T để giải phóng cho nhau là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng bà C và ông T có 01 con chung, Đỗ Huỳnh Nhật K, sinh ngày 04/9/2016. Ly hôn, bà C xin được trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Xét việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Ở đây cháu K hiện còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi và đang ở với mẹ nên cuộc sống của cháu cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc nuôi dưỡng của mẹ đối với con. Xuất phát từ quyền lợi mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Đỗ Huỳnh Nhật K cho bà C được trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa bà C yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của bà C về việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông T là phù hợp với khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
- Về tài sản chung: Bà C xác nhận không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về nợ chung: Bà C xác định không có nợ chung nên không xem xét.
Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Huỳnh Thị Thu C phải chịu.
Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ: 300.000 đồng, ông Đỗ Ngọc T phải chịu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Thu C đối với ông Đỗ Ngọc T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu C được ly hôn với ông Đỗ Ngọc T.
2. Về con chung: Giao con Đỗ Huỳnh Nhật K, sinh ngày 04/9/2016 cho bà Huỳnh Thị Thu C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Ngọc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 28/4/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề cập đến.
4. Án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Huỳnh Thị Thu C phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0001672 ngày 30/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.
5. Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ: 300.000 đồng, ông Đỗ Ngọc T phải chịu.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư-ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THADS quận Ngũ Hành Sơn; - UBND xã P, H. M, tỉnh Bình Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Lâm |