- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP LV - Nguyễn Đức P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/DSST Ngày: 28-11-2018 V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Huy
- Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đặng Ngọc Hương
2/ Bà Phan Thị Hồng
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng -
Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Hồng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2018/TLST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49A/2018/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần LV
Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình Thắng, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người được ủy quyền:
- Ông Đinh Phúc T, sinh năm: 1966; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Khánh Hòa. (Quyết định ủy quyền số: 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 của Ngân hàng TMCP LV).
- Ông Đỗ Văn S, sinh năm: 1983; chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch C. (Giấy ủy quyền về việc tham gia vụ kiện số: 860A/2018/UQ-LV.KH ngày 03/10/2018 của Ngân hàng Ngân hàng TMCP LV - Chi nhánh Khánh Hòa)
(Ông Đỗ Văn S có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Ông Nguyễn Đức P, sinh năm: 1980
Nơi cư trú: Tổ dân phố Linh Phú, phường Cam Linh, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trƣờng THCS Nguyễn Trọng Kỷ
Địa chỉ: Tổ dân phố Linh Phú, phường Cam Linh, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng T - Chức vụ: Hiệu trưởng. (Ông T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2018, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần LV - ông Đỗ Văn S trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần LV - Chi nhánh Khánh Hòa - Phòng giao dịch C (Viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Đức P có ký kết hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016. Theo hợp đồng này, Ngân hàng cho ông Nguyễn Đức P vay 100.000.000 đồng, mục đích vay vốn để tiêu dùng. Thời hạn vay là 60 tháng, chia làm 60 kỳ trả nợ gốc; lãi suất tại thời điểm cho vay 13%/năm áp dụng P thức thả nổi; lãi suất trong hạn thay đổi kể từ ngày 16/3/2017 với lãi suất là 14,05%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 07/6/2021.
Ông Nguyễn Đức P tại thời điểm vay vốn là giáo viên trường Nguyễn Trọng Kỷ, hiện nay đã nghỉ việc. Tuy nhiên, từ khi ông P đã nhận 100.000.000 đồng tiền vay đến nay chỉ trả gốc là 18.427.876 đồng và lãi cho Ngân hàng đến ngày 15/6/2017. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhắc nhở và yêu cầu ông thực hiện đúng cam kết như trong hợp đồng tín dụng nhưng ông P không có thiện chí hợp tác, hay đi khỏi địa P nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Khi ông P vay vốn, lãnh đạo trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ có ký hồ sơ cam kết phối hợp cùng Ngân hàng để giữ lương của ông P để thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng lãnh đạo nhà trường đã không thực hiện. Tính đến ngày 11/10/2018, ông P còn nợ của Ngân hàng là 81.572.124đồng tiền gốc và 19.445.187đồng tiền lãi, tổng cộng là 101.017.311 đồng. Khoản vay của ông P đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 16/6/2017.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nhằm thu hồi được nợ. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P phải tất toán toàn bộ số tiền trên và các khoản lãi, phí phát sinh sau này cho Ngân hàng.
Tại đơn phúc đáp của Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ, đại diện ông Nguyễn Hoàng T trình bày:
Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ xác nhận ông Nguyễn Đức P nguyên là giáo viên của trường từ tháng 9/2015 đến ngày 31/8/2017. Đầu tháng 6/2016, ông Nhan Quang Lân nguyên là Phó hiệu trưởng có ký xác nhận về tiền lương của ông Nguyễn Đức P đang công tác tại đơn vị. Qua trao đổi với nhân viên kế toán của nhà trường và lãnh đạo trước đây được biết giữa nhà trường và Ngân hàng Thương mại cổ phần LV - Chi nhánh Khánh Hòa không có ký văn bản thỏa thuận ghi nhớ giữa hai đơn vị về vay tín dụng (tín chấp) cho giáo viên, nhân viên với Ngân hàng. Ông Nguyễn Đức P đã chấm dứt hợp đồng làm việc với nhà trường kể từ ngày 01/9/2017 và đề nghị ông P hợp tác với Ngân hàng và Tòa án để giải quyết vụ việc theo qui định pháp luật.
* Tại phiên tòa, Đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu là không yêu cầu tính tiền phạt chậm trả lãi, buộc ông Nguyễn Đức P phải tất toán hợp đồng đã kí kết với Ngân hàng. Cụ thể ông Nguyễn Đức P phải thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc và lãi cho đến ngày xét xử (28/11/2018) là 107.791.137 đồng, trong đó tiền gốc: 81.572.124 đồng, lãi quá hạn: 26.219.013 đồng và các khoản lãi, phí phát sinh sau này cho Ngân hàng trừ tính tiền phạt chậm trả lãi.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa và các phiên hòa giải.
Về việc giải quyết vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa các đương sự tuân thủ đúng qui định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV buộc ông Nguyễn Đức P phải trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng. Ông Nguyễn Đức P phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016; Bảng kê tính gốc, lãi ngày 28/11/2018; Thông báo nợ quá hạn ngày 21/8/2017, ngày 01/9/2017, ngày 20/3/2017; Biên bản làm việc ngày 22/12/2016, ngày 20/7/2017, ngày 07/9/2017; Giấy đề nghị vay vốn kiêm P án trả nợ; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ; Giấy chứng nhận đăng kí hoạt động chi nhánh; Thông báo khởi kiện; Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đinh Phúc Toàn, Nguyễn Đức P; Quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm đối với ông Đinh Phúc Toàn; Giấy ủy quyền số 860A/2018/UQ-LienVietPostBank.KH ngày 03/10/2018 và Quyết định Ủy quyền số 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần LV khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Đức P trả nợ do vi phạm hợp đồng tín dụng. Yêu cầu của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C theo qui định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Đức P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, Đại diện Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Đức P và ông Nguyễn Hoàng Thanh.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng chỉ yêu cầu ông Nguyễn Đức P trả vốn gốc còn nợ là 81.572.124 đồng, lãi suất quá hạn là 26.219.013 đồng tính đến ngày 28/11/2018, tổng cộng gốc và lãi là 107.791.137 đồng. Đồng thời Ngân hàng yêu cầu ông P phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016 cho đến khi ông P thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng, không yêu cầu tính tiền phạt chậm trả lãi. Xét thấy việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ vào Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa Ngân hàng và trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ có xác nhận giữa hai đơn vị về vay tín dụng (tín chấp) cho giáo viên, nhân viên với Ngân hàng, theo đó tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm P án trả nợ có xác nhận bên Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ chỉ đồng ý chuyển tiền lương thu nhập và có nghĩa vụ nhắc nhở, đôn đốc cán bộ, nhân viên vay vốn trả nợ đúng hạn theo thông báo của Ngân hàng và nhận thấy Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ không bảo lãnh số tiền vay của cá nhân với Ngân hàng. Do đó không có cơ sở để buộc Trường THCS Nguyễn Trọng Kỷ có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng.
Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016 được ký kết giữa Ngân hàng và ông P là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo qui định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã kí kết.
Theo bảng kê, gốc và lãi vay vốn đến ngày 28/11/2018 do Ngân hàng cung cấp, ông Nguyễn Đức P còn nợ: 107.791.137 đồng, gồm:
Gốc: 81.572.124 đồng
Lãi quá hạn: 26.219.013 đồng
Xét, việc vi phạm hợp đồng đã kéo dài một thời gian làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn, trong khi bị đơn ông Nguyễn Đức P cố tình vắng mặt, không có thiện chí hòa giải để thể hiện quan điểm của mình về hướng giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Đức P phải trả ngay số nợ nêu trên là có căn cứ, phù hợp với qui định tại Điều 280, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Tòa án chấp nhận.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng có yêu cầu ông P phải tiếp tục trả lãi phát sinh (trừ tiền phạt chậm trả lãi), kể từ ngày 29/11/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016 cho đến khi ông P thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Hội đồng xét xử thấy, theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên tiếp tục chịu các khoản tiền lãi (trừ tiền phạt chậm trả lãi) theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông P thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp với Điều 357 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc ông Nguyễn Đức P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần LV với số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28/11/2018, tổng cộng là: 107.791.137 đồng và buộc ông Nguyễn Đức P phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi theo mức lãi suất (trừ tiền phạt chậm trả lãi) các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông P thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng.
Về án phí: Ông Nguyễn Đức P phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể:
107.791.137 đồng x 5% = 5.389.556 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 2 điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV.
1/ Buộc ông Nguyễn Đức P phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần LV toàn bộ số tiền gốc và lãi là 107.791.137 đồng (trong đó tiền gốc: 81.572.124 đồng, lãi quá hạn: 26.219.013 đồng) và các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 29/11/2018 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 61116/0092/TTTD-CBCCVC ngày 07/6/2016 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc cho Ngân hàng, trừ khoản tiền phạt chậm trả lãi. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV thì lãi suất mà ông Nguyễn Đức P vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần LV theo Quyết định của Toà án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần LV.
2/ Về án phí: Ông Nguyễn Đức P phải nộp 5.389.556 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần LV 2.348.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: AA/2016/0012500 ngày 08/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C.
3/ Quy định: Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngân hàng Thương mại cổ phần LV có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Đức P, ông Nguyễn Hoàng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Khánh Hòa - VKSND thành phố C - Chi cục THADS thành phố C - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Huy |