- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa C và V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đ n Bà Nguyễn T C: Sửa Bản án dân sự s thẩm số 46/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của T a án nhân dân huyện Đ T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng, lấn chiếm không gian” giữa nguyên đ n Bà Nguyễn…
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2018/DS-PT Ngày 22-3-2018 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng, lấn chiếm không gian. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN ÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mừng
Các Thẩm phán:
Ông Võ Đình Nghị
Ông Nguyễn Kim Đồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ - Th k T a án nhân dân t nh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2018 tại trụ s T a án nhân dân t nh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số: 156/2017/DS-PT ngày 10 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian.
Do bản án dân sự s thẩm số 46/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2017/QĐ-PT ngày 24 tháng 11 năm 2017; Quyết định hoãn phiên t a số 163/2017/QĐ-PT ngày 26/12/2017; Thông báo m lại phiên t a số 83/TB-PT ngày 08/02/2018; Thông báo m lại phiên t a số 135/TB-PT ngày 08/3/2018 giữa các đ ng sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn T C, sinh năm 1964 C trú tại: Tổ 1, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật s Lê C T – Văn ph ng luật s B T, thuộc Đoàn luật s t nh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Tr ng D V, sinh năm 1972
Bà Lê Thị T H, sinh năm 1974
Cùng c trú tại: Tổ 1, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân huyện Đ T, t nh Lâm Đồng. Trụ s : Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ V P – Chức vụ: Chủ tịch UBND
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan A T – Chức vụ: Phó tr ng ph ng Tài nguyên và môi tr ờng huyện Đ T.
Do có kháng cáo của nguyên đ n Bà Nguyễn T C.
(Các đương sự đều có mặt, Đại diện Ủy ban nhân dân huyện Đ T vắng mặt)
NỘI UNG VỤ N:
Theo bản án sơ thẩm,
Theo đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn T C trình bày: Nguồn gốc đất bà đang sử dụng tại tổ 01, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng là do Nhà n ớc cấp cho bà và ông Đ vào năm 1985. Sau đó, vợ chồng bà ly hôn và chia tài sản chung, ngày 31/5/2005 bà đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Đ T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 503m2 thuộc thửa đất số 1308, tờ bản đồ số 6, nhà và đất tọa lạc tại tổ 01, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
Trong quá trình sử dụng đất thì vào năm 2015 vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H là hộ liền kề đã xây dựng nhà và hàng rào lấn chiếm đất, lấn chiếm không gian thuộc quyền sử dụng đất của bà.
Nay bà kh i kiện yêu cầu vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải tháo dỡ bức t ờng xây trả lại cho bà phần diện tích đất là 8m2 phía sau nhà bà và gia đình ông V, bà H. Đồng thời, bà yêu cầu vợ chồng ông V, bà H phải tháo dỡ phần mái nhà vi phạm không gian có diện tích (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) thuộc thửa đất số 1308 tờ bản đồ số 6, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng theo họa đồ đo đạc do Chi nhánh văn ph ng đăng k đất đai huyện Đ T thực hiện ngày 21/12/2015 để trả lại đất và không gian cho bà.
Bị đơn vợ chồng ông Trương D V, Bà Lê Thị T H trình bày: Vào ngày 22/8/2011, vợ chồng ông bà đ ợc Ủy ban nhân dân huyện Đ T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 674m2 thuộc thửa đất số 1318 tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại tổ 01, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng. Năm 2015, ông bà xây dựng nhà và ranh giới đất giữa gia đình ông bà và bà C là hàng rào l ới B40, trụ bê tông nh những hình ảnh ông bà đã cung cấp cho T a, nh ng hiện nay bà C đã tháo dỡ nên không c n nữa.
Nay bà C kh i kiện yêu cầu vợ chồng ông bà phải tháo dỡ bức t ờng xây trả lại cho bà C phần đất là 8m2 phía đằng sau nhà bà C và gia đình ông bà, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông bà phải tháo dỡ phần vi phạm không gian mái nhà có diện tích (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) theo họa đồ đo đạc do Chi nhánh văn ph ng đăng k đất đai huyện Đ T thực hiện ngày 21/12/2015 để trả lại không gian cho bà C thì ông bà không đồng vì ông bà không lấn chiếm đất của bà C, ông bà ch sử dụng trong phần đất của ông bà. Ngoài ra ông bà không có kiến gì khác.
Ủy ban nhân dân huyện Đ T, tỉnh Lâm Đồng trình bày: Đối với yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n, Ủy ban nhân dân huyện Đ T không có kiến gì, đề nghị T a án nhân dân các cấp căn cứ các quy định của pháp luật để xử l vụ án.
Tại Bản án dân sự s thẩm số 33/2016/DS-ST ngày 29/9/2016 của T a án nhân dân huyện Đ T xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C về việc kiện yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian. Buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải tháo dỡ phần mái nhà lấn chiếm không gian của bà C có diện tích (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) là phần máng xối, thũng lung thu n ớc khổ 400mm, mạ nhôm kẽm để trả lại không gian cho bà C.
Bác yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C về việc kiện yêu cầu vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải tháo dỡ bức t ờng xây phía sau nhà ông V, bà H và cũng là phía sau nhà bà trả lại cho bà C 8m2 tọa lạc tại tổ 1, thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
Giữ nguyên hiện trạng ranh giới nhà và đất của Bà Nguyễn T C và vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H tại các thửa đất 1308 và thửa 1318 tờ bản đồ 06. Nhà và đất tọa lạc tại thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng là bức t ờng xây gạch kiên cố do vợ chồng ông V, bà H xây dựng năm 2015 (có họa đồ kèm theo).
Ngày 25/10/2016 vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H có đ n kháng cáo không đồng tháo dỡ công trình xây dựng là phần diện tích mái lợp tôn lấn chiếm không gian để trả lại cho nguyên đ n. Tại phiên t a phúc thẩm, vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian trên diện tích 1,2m2 theo yêu cầu kh i kiện của nguyên đ n. Nguyên đ n Bà Nguyễn T C không chấp nhận kháng cáo và đề nghị hủy toàn bộ bản án s thẩm.
Tại bản án phúc thẩm số 25/2017/DS-PT ngày 28/3/2017 của T a án nhân dân t nh Lâm Đồng, xử:
Hủy toàn bộ Bản án Dân sự s thẩm số 33/2016/DS-ST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đ T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian” giữa nguyên đ n Bà Nguyễn T C với bị đ n vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ T.
Ngày 03/5/2017 Tòa án nhân dân huyện Đ T, t nh Lâm Đồng thụ l giải quyết lại vụ án theo trình tự s thẩm.
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đ T thụ l giải quyết lại vụ án, quá trình giải quyết các bên đ ng sự đều giữ nguyên kiến trình bày nêu trên.
Tại bản án s thẩm số 46/2017/DS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ T đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C về việc kiện buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H tháo dỡ t ờng xây phía sau nhà bà C với nhà ông V, bà H để trả lại cho bà C 8m2 (kích th ớc 0,4m x 20m) tọa lạc tại thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C về việc kiện yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian. Buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải tháo dỡ phần mái nhà lấn chiếm không gian của bà C có diện tích (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) là phần máng xối, thũng lung thu n ớc khổ 400mm, mạ nhôm kẽm để trả lại không gian cho bà C.
Giữ nguyên hiện trạng ranh giới nhà và đất của Bà Nguyễn T C và vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H tại các thửa đất 1308 và thửa 1318 tờ bản đồ 06. Nhà và đất tọa lạc tại thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng là bức t ờng xây gạch kiên cố do vợ chồng ông V, bà H xây dựng năm 2015 (có họa đồ đo đạc ngày 21/12/2015 kèm theo).
Ngoài ra bản án c n tuyên về án phí dân sự s thẩm, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đ ng sự .
Ngày 04-10-2017 Nguyên đ n bà C kháng cáo một phần bản án s thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử buộc gia đình ông V, bà H tháo dỡ bức t ờng xây trả lại cho bà phần diện tích đất 8m2 phía sau nhà ông V, bà H.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đ n vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị đ n không đồng với kháng cáo của nguyên đ n và đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án s thẩm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng tham gia phiên t a phát biểu kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đ ng sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đ n Bà Nguyễn T C. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào kết quả tranh luận; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đ n Bà Nguyễn T C kh i kiện yêu cầu vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H tháo dỡ bức t ờng xây 0,4m x 20m = 8m2 nằm phía sau nhà bà C và nhà ông V, bà H và yêu cầu ông V, bà H phải tháo dỡ phần mái nhà vi phạm không gian có diện tích (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) thuộc thửa đất số 1308, tờ bản đồ số 6, xã H T, huyện Đ T. Bị đ n vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H không đồng nên các bên phát sinh tranh chấp. Cấp s thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng, lấn chiếm không gian” là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đ n Bà Nguyễn T C đối chiếu với tài liệu chứng cứ có trong hồ s đã đ ợc cấp s thẩm thu thập và lời khai của các đ ng sự thể hiện:
Nguồn gốc thửa đất số 1308, tờ bản đồ số 6, diện tích 503m2 của Bà Nguyễn T C là do Nhà n ớc cấp cho ông Đ, bà C từ năm 1985. Năm 2003 ông Đ, bà C ly hôn với nhau, đến ngày 31/5/2005 bà C đ ợc UBND huyện Đ T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tách từ phần đất bà C đ ợc phân chia tại Quyết định thuận tình ly hôn số 26/QĐ-TTLH ngày 24/12/2003 của T a án nhân nhân huyện Đ T. Về nguồn gốc thửa đất số 1318, tờ bản đồ số 6, diện tích 674m2 của vợ chồng ông Tr ng D V và Bà Lê Thị T H là do sang nh ợng của vợ chồng ông Đặng Q V1 và bà Vũ Thị B L vào ngày 01/8/2011; đến ngày 22/8/2011 ông Tr ng D V và Bà Lê Thị T H đ ợc UBND huyện Đ T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo họa đồ giữa hai thửa đất 1308 và thửa đất 1318 từ tr ớc khi vợ chồng ông V, bà H nhận chuyển nh ợng cho đến nay đều đ ợc xác định là một đ ờng thẳng. Theo họa đồ đo đạc do Chi nhánh văn ph ng đăng k đất đai huyện Đ T thực hiện ngày 21/12/2015 và qua xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2018 thể hiện: Sau khi bà C và ông Đ ly hôn với nhau, phần đất của bà C đ ợc chia có tứ cận phía tr ớc có chiều ngang 12m (giáp với đ ờng), phía sau 11,4m (giáp suối), các cạnh giáp ông Đ và gia đình ông V bà H là 43m. Ngoài phần lấn chiếm không gian đã đ ợc cấp s thẩm xét xử chấp nhận (các đ ng sự không kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật), thì phần ranh giới giữa hai thửa đất 1318 của gia đình ông V, bà H và thửa đất 1308 của gia đình bà C đ ợc xác định là một đ ờng thẳng, nh ng trên thực tế thể hiện: Bức t ờng xây phía tr ớc do gia đình bà C xây dựng cao 1,9m dài 21m là một đ ờng thẳng, các bên đ ng sự đều thống nhất, không có tranh chấp; tiếp theo là bức t ờng xây phía sau bắt đầu từ phần lấn chiếm không gian thì bức t ờng này (do vợ chông ông V, bà H xây dựng) lại lấn chiếm sang thửa đất 1308 của gia đình bà C có chiều dài là 20m. Do đó nội dung kháng cáo của bà C yêu cầu ông V, bà H tháo dỡ bức t ờng phía sau nhà bà C với nhà ông V, bà H để trả lại cho bà C diện tích đất 8m2 (kích th ớc 0,4m x 20m) là có căn cứ để chấp nhận.
Đối với các nội dung khác trong vụ án, đ ng sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên, cần chấp nhận kháng cáo của Bà Nguyễn T C, sửa bản án s thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H có trách nhiệm hoàn trả cho Bà Nguyễn T C số tiền 2.385.000đ (cấp s thẩm 650.000đ, phúc thẩm là 1.735.000đ) tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản tranh chấp.
[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo đ ợc chấp nhận nên vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải chịu án phí dân sự s thẩm theo quy định. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí s thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho Bà Nguyễn T C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí T a án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đ n Bà Nguyễn T C: Sửa Bản án dân sự s thẩm số 46/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của T a án nhân dân huyện Đ T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng, lấn chiếm không gian” giữa nguyên đ n Bà Nguyễn T C với bị đ n vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ T. Xử:
1. Xác định ranh giới đất giữa gia đình Bà Nguyễn T C (thửa đất 1308) và gia đình ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H (thửa 1318) tờ bản đồ 06 tọa lạc tại thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng là một đ ờng thẳng; điểm đầu là bức t ờng xây phía tr ớc kéo dài ra phía sau hết đất.
2. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C: Buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H tháo dỡ bức t ờng xây phía sau nhà bà C (thửa đất 1308) với nhà ông V, bà H (thửa 1318) tờ bản đồ 06 để trả lại cho bà C 8m2 (kích th ớc 0,4m x 20m). Đây là bức t ờng xây kiên cố do vợ chồng ông V, bà H xây dựng, đ ợc tọa lạc tại thôn P T, xã H T, huyện Đ T, t nh Lâm Đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của Bà Nguyễn T C về việc kiện yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm không gian. Buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải tháo dỡ phần mái nhà lấn chiếm không gian của bà C có diện tích là (0,4m x 6,07m) : 2 = 1,2m2 (lấy tròn số) là phần máng xối, thũng lung thu n ớc khổ 400mm, mạ nhôm kẽm để trả lại không gian cho bà C.
4. Về chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H có trách nhiệm hoàn trả cho Bà Nguyễn T C số tiền 2.385.000đ (Hai triệu, ba trăm tám m i lăm nghìn đồng).
5. Về án phí:
Buộc vợ chồng ông Tr ng D V, Bà Lê Thị T H phải chịu 775.000đ (Bảy trăm bảy m i lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự s thẩm.
Hoàn trả cho Bà Nguyễn T C 200.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự s thẩm và 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, tổng cộng là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005970 ngày 06/4/2016 và biên lai thu số 0006913 ngày 10/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ T.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Lâm Đồng; - TAND huyện Đ T; - CCTHADS huyện Đ T; - Phòng KTNV & THA; - Các đ ng sự ; - L u AV – HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm Phán – Chủ Tọa Phiên Tòa Đã ký Nguyễn Hữu Mừng |