vanban.org

Bản án 37/2017/QĐST-HNGĐ — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 58,

81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 58,
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TÆNH TIEÀN GIANG
Baûn aùn soá:57/2017/HNGÑ-ST;
Ngaøy: 25/8/2017.
V/v Tranh chaáp “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY – TIỀN GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Đặng Hữu Tiếp.

2/. Ông Võ Thanh Hải.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy: không tham gia.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 157/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2017/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 37/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 09/8/2017 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ D, sinh năm: 1985; (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Ông Phạm Thanh N, sinh năm: 1982; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải bà Trần Thị Lệ D trình bày:

Tôi và ông N kết hôn từ năm 2008, do mâu thuẫn và không chung sống với nhau được nên chúng tôi đã ly hôn và được Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang chấp nhận cho ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 83/2015/QĐ-ST-HNGĐ, ngày 20/7/2015. “Về con chung tuyên có 02 con chung là cháu Phạm Huỳnh L, sinh ngày 20/7/2010 và cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 14/3/2012. Ông N và bà D thống nhất để ông N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và bà D không cấp dưỡng nuôi con do ông N không có yêu cầu”. Trong suốt quá trình ly hôn đến nay ông N không rước hai con về nhà nuôi dưỡng như đã thỏa thuận mà giao cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung. Từ khi sinh ra các con đều do bà D chăm sóc nên gần gũi với các con hơn ông N. Ông N không có trách nhiệm và không quan tâm chăm lo cho hai con, khi giao con cho bà D nuôi dưỡng và cũng ít khi ghé thăm con và cũng không chu cấp hàng tháng. Nay để đảm bảo lợi ích cho các con bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 2 con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

* Đối với bị đơn ông Phạm Thanh N: Đã được tòa án triệu tập hợp lệ các lần vào các ngày 20/6/2017, 26/6/2017, 12/7/2017 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; và xét xử vào ngày 09/8/2017, 25/8/2017, nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có ý trình bày bằng văn bản gửi cho Tòa án, tòa án căn cứ điểm b, khoản 2, điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt ông N.

* Ngoài những lời khai của nguyên đơn, trong hồ sơ vụ án còn có các tài liệu chứng cứ sau:

- Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 83/2015/QĐST-HNGĐ, ngày 20/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

- Giấy khai sinh của cháu Phạm Ngọc L và Phạm Huỳnh L.

- Bản tự khai của cháu Phạm Huỳnh L.

- Đơn xin xác nhận đề ngày 14/7/2017 được UBND xã N xác nhận ngày 16/7/2017 về việc 2 cháu Phạm Huỳnh L và Phạm Ngọc L đang sống chung với chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào kết quả thẩm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän định:

Bà D tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà D có đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Do sau khi có quyết định số 83/2015/QĐST-HNGĐ công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của Tòa án nhân dân thị xã C đã có hiệu lực pháp luật nội dung quyết định là giao 02 con (cháu Phạm Huỳnh L, Phạm Ngọc L) cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng nhưng từ đó đến nay ông N không thực hiện đúng theo nội dung quyết định thỏa thuận, không rước 2 con về chăm sóc nuôi dưỡng, cũng như không cấp dưỡng để bà D nuôi con mà thực tế 2 cháu vẫn sống với bà D từ khi sinh ra tới nay.

Về phía bị đơn ông Phạm Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các lần hòa giải vào ngày 20/6/2017; 26/6/2017; 12/7/2017 và xét xử vào ngày 09/8/2017, 25/8/2017 nhưng ông N vẫn không đến tòa theo giấy triệu tập của Tòa án cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của bà D. HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông N.

Bà Trần Thị Lệ D do bận việc gia đình nên có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09/8/2017, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bà D.

Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà Trần Thị Lệ D: Căn cứ đơn xác nhận của bà D đề ngày 14/7/2017 nội dung đơn thể hiện 02 cháu Phạm Huỳnh L, sinh ngày 24/7/2010 và cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 14/3/2012 hiện đang sống chung với bà D từ khi các cháu được sinh ra đến nay, và đơn này đã được UBND xã N xác nhận là đúng, nên có căn cứ xác định hiện 2 cháu đang sống với bà D. Cháu Phạm Huỳnh L, sinh ngày 24/7/2010, tính đến nay đã trên 07 tuổi nên có bản tự khai thể hiện nguyện vọng được sống với bà D là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, 2 cháu được Bà D chăm sóc, phát triển tốt, khỏe mạnh bình thường, không có dấu hiệu bạo hành. Và bà D hiện cũng đang kinh doanh quán cà phê, có thu nhập ổn định, có chỗ ở ổn định. Do đó, Bà D có đủ điều kiện để nuôi con. Bà D và gia đình không có cản trở quyền thăm nom con của ông N nên quyền lợi ích của 02 Cháu Huỳnh L, Ngọc L vẫn được đảm bảo về mặt nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục… .Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ D. Bên cạnh đó cũng nhắc nhở bà D đang trực tiếp chăm sóc 02 cháu Huỳnh L, Ngọc L cần phải tạo điều kiện và không được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc con chung của ông N.

Ông N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, do yêu cầu khởi kiện của bà D được Tòa án chấp

nhận nên ông N phải chịu án phí không giá ngạch theo quy định là 300.000đ.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều Khoản 3 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 58,

81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ D về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Giao 02 cháu Phạm Huỳnh L, sinh ngày 24/7/2010 và cháu Phạm Ngọc L, sinh ngày 14/3/2012 cho bà Trần Thị Lệ D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

2/. Về án phí: ông Phạm Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm do yêu cầu của bà D được Tòa án chấp nhận; Hoàn lại bà D 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000768 ngày 12/5/2017của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3/. Bà Trần Thị Lệ D, ông Phạm Thanh N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong tröôøng hôïp baûn aùn, quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo qui ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo qui ñònh taïi caùc Ñieàu 6,7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo qui ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï./.

Cỡ chữ