vanban.org

Bản án 37/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 19/05/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tộ i “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/01/2017. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tộ i “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2017/HSST
Ngày: 19 - 5 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Công Đa

- Các Hội thẩm nhân dân:

 Ông Phạm Tám - Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Vạn Ninh;

 Ông Đỗ Văn Nhã - Cán bộ Chi cục Thuế huyện Vạn Ninh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2017, tại Nhà Văn hóa thôn TB - xã ĐL - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2017/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Đức L - sinh năm 1995, tại V - Khánh Hòa; trú tại thôn TB - xã ĐL - huyện V - tỉnh Khánh Hòa; quố c tị ch : Việ t N am; dân tộ c : Kinh; nghề nghiệ p : Không; trình độ văn hó a: 7/12; con ông Lê Xuân T (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng Th; tiề n sự : Không; tiề n á n: 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 44/2015/HSST ngày 11/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa; bị tạm giữ ngày 20/01/2017, tạm giam ngày 23/01/2017. Có mặt.

- Người bị hại:

Anh Đỗ Tấn N (tên gọi khác: V) - sinh năm 1988; trú tại thôn TB1 - xã ĐL - huyện V - tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 16/5/2016, Lê Đức L đi bộ từ nhà đến quán giải khát “BT” thuộc thôn TB1 - xã ĐL - huyện V - tỉnh Khánh Hòa uống cà phê. Khi vào quán, L gặp anh Đỗ Tấn N đang nằm một mình trên võng, trong lúc uống nước thì L nhớ lại việc anh N đe dọa đòi đánh mình vài hôm trước nên nảy sinh ý định đánh anh N, nhưng chưa kịp đến đánh thì lúc này có anh Nguyễn Hữu Đ và anh Nguyễn Minh H đến và cùng ngồi uống nước chung với anh N. Một lúc sau, L đi đến chào hỏi anh Đ và quay sang phía anh N đang nằm trên võng, Lập lấy trong túi quần ra một con dao dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng inox đâm một nhát vào vùng bụng anh N gây thương tích. Anh N bỏ chạy và sau đó được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa.

Sau khi gây án, Lê Đức L trốn khỏi địa phương đến ngày 20/01/2017 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 184/TgT ngày 13 tháng 7 năm 2016, Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa kết luận thương tích của anh Đỗ Tấn N như sau: Vết thương vùng bụng cạnh rốn phải sâu thấu bụng gây thủng hồi tràng 05 lổ, mạc treo ruột non thủng 04 lổ, nạn nhân đã được phẩu thuật, hiện tại ổn định.Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 36%.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-KSĐT ngày 15 tháng 3 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Lê Đức L về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 (viện dẫn điểm a khoản 1) Điề u 104 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Đức L theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Lê Đức Lập từ 07 năm đến 08 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức L đã khai nhậ n hà nh vi củ a mì nh dùng dao đâm gây thương tích cho anh Đỗ Tấn N như nội dung bản Cáo trạng số 24/CT-KSĐT ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân hu yệ n Vạ n Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu . Lờ i khai của bị cáo phù hợ p vớ i lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với Biên bản xảy ra sự việc do Công an xã ĐL lập ngày 16/5/2016 và phù hợp với các chứ ng cứ khá c có tạ i hồ sơ vụ á n. Như vậy, đủ cơ sở kết luận khoảng hơn 19 giờ 30 phút ngày 16/5/2016, tại quán giải khát “BT” thuộc thôn TB1 - xã ĐL - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, Lê Đức L đã có hành vi dùng dao đâm một nhát vào bụng anh Đỗ Tấn N gây thương tích. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 36%. Hành vi của bị cáo Lê Đức L đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội và hình phạt được quy định tại Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Đỗ Tấn N như trên là phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm phải bị xử phạt theo quy định tại khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Bên cạnh đó, giữa bị cáo và anh Đỗ Tấn N không có mâu thuẫn gì, nhưng khi nhìn thấy anh Đỗ Tấn N tại quán giải khát “BT” thì chỉ vì lý do bị cáo cho rằng trước đó mấy hôm anh N có đe dọa đòi đánh mình mà bị cáo đã dùng dao đâm anh N bất chấp hậu quả xảy ra và gây thương tích cho anh N như trên là còn phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ phải bị xử phạt theo quy định tại khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Nên, tuy Viện kiểm sát chỉ truy tố bị cáo theo khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 104 của Bộ luậ t H ình sự, nhưng với hành vi phạm tội của bị cáo như trên thì bị cáo phải bị xử phạt theo khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a - i khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, nên phải áp dụng khoả n 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a - i khoản 1) Điều 104 của Bộ luậ t Hình sự để xử phạt đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của anh Đỗ Tấn N, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương.

Bị cáo là người đang có tiền án 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 44/2015/HSST ngày 11/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa), chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2016, về lại địa phương chưa được xóa án tích, nhưng nay bị cáo lại phạm tội là tái phạm thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luậ t Hình sự, nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với bị cáo. Bên cạnh đó, tuy bị cáo không có tiền sự nhưng về nhân thân thì ngày 30/5/2014, bị cáo bị Công an xã Đ L

- huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 02/QĐ-XPVPHC) và ngày 17/12/2014, bị cáo bị Công an xã ĐL xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số 05/QĐ-XPVPHC). Lẽ ra bị cáo phải thấy được sai phạm của mình và lấy đó làm bài học, ra sức sửa chữa, khắc phục sai phạm, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật để trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, nhưng ngược lại, đến ngày 16/5/2016 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” và là tội phạm rất nghiêm trọng. Chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, không chịu tiếp thu cải tạo; coi thường kỷ cương pháp luật; coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác; sẵn sàng phạm tội. Đồng thời sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo lại bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, xử lý tội phạm. Vì vậy, nên cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Anh Đỗ Tấn N khai anh đã điều trị thương tích và các khoản chi phí khác tổng cộng là 29.446.700đồng. Anh N yêu cầu bị cáo Lê Đức Lập phải bồi thường cho anh số tiền trên.

Bị cáo Lê Đức L cũng đồng ý bồi thường cho anh Đỗ Tấn N số tiền anh N yêu cầu.

Xét sự thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo Lê Đức L và anh Đỗ Tấn N là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.

- Về á n phí :

Bị cáo Lê Đức L phải chịu án phí hì nh sự sơ thẩ m và phải chịu án phí dân sự sơ thẩ m theo quy định của pháp luật với số tiền án phí hì nh sự sơ thẩ m là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩ m là 1.472.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tộ i “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a - i khoản 1) Điề u 104; điể m p khoản 1 Điề u 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự đối vớ i bị cáo Lê Đức L.

- Xử phạt bị cáo Lê Đức L 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/01/2017.

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào các Điều 584 - 585 - 586 - 590 của Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Lê Đức L và người bị hại anh Đỗ Tấn N như sau:

Bị cáo Lê Đức L phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Đỗ Tấn N 29.446.700đồng (hai mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn bảy trăm nghìn).

Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành án khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

- Về án phí:

Bị cáo Lê Đức L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.472.000đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn).

- Quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ