vanban.org

Bản án 37/2017/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 08/12/2017 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc:

Hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N; Hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Huỳnh Thị C khiếu kiện UBND huyện N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc:
  • Căn cứ chính? Điều 22 Luật Đất đai; Điều 3 Luật Tố tụng hành chính; Điều 66 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2017/HC-ST
Ngày 08 tháng 12 năm 2017
V/v khiếu kiện:
1. Quyết định thu hồi đất;
2. Quyết định hỗ trợ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Yến

2. Bà Lê Thị Chinh

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2017/TLST-HC ngày 11 tháng 7 năm 2017 về việc “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất; hỗ trợ khi thu hồi đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2017/QĐST-HC ngày 08 tháng 11 năm 2017; giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Đoàn Việt T, sinh năm: 1967. (Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2017) (có mặt)

Địa chỉ: xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận

Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Võ Đình V – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Đoàn Văn H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Văn bản ủy quyền ngày 20/7/2017) (có đơn xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Đường L, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Minh Đ, sinh năm: 1960. (có mặt)

Địa chỉ: Thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2017 của bà Huỳnh Thị C và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Đoàn Việt T trình bày:

Ngày 21/9/2016 Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện N ban hành Quyết định số 2016/QĐ-UBND thu hồi 6.297 m2 đất của UBND xã M quản lý do hộ bà Huỳnh Thị C lấn chiếm sử dụng thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 tại xã M, huyện N. Với lý do thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn xã M, huyện N.

Ngày 21/9/2016 UBND huyện N ban hành Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án tuyến Kênh chính đập dâng Tân Mỹ. Quyết định này không bồi thường giá trị quyền sử dụng đất là không có căn cứ, trái pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền tự do về tài sản của cá nhân cũng như gia đình bà C được Hiến pháp, Bộ luật dân sự bảo vệ.

Thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 tại xã M, huyện N với diện tích 6.297 m2 là đất bà C nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đoàn Văn P khai hoang vào tháng 01/2004 sử dụng ổn định không tranh chấp đến năm 2007 sang nhượng lại cho bà C sử dụng lại cho đến nay (được ghi nhận tại danh sách chủ sử dụng đất thu hồi xây dựng Dự án đập dâng Tân Mỹ do UBND xã M xác nhận).

Trong toàn bộ quá trình sử dụng đất từ năm 2004 cho đến nay, ông Đoàn Văn P và bà Huỳnh Thị C là người trực tiếp sản xuất, trồng mỳ và hiện tại bà C trồng cây keo lai. UBND huyện N không có bất kì chứng cứ nào chứng minh là ông P hay bà C lấn chiếm đất để sử dụng.

Không đồng ý với Quyết định thu hồi số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và Quyết định hỗ trợ số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017. Bà Huỳnh Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận giải quyết:

- Hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

- Hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện Ninh Sơn về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

Đại diện theo pháp luật của UBND huyện Ninh Sơn ông Võ Đình V có Văn bản số 1651/UBND-TH về việc trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện ngày 31/7/2017:

Dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ được Trung ương hỗ trợ đầu tư và được phê duyệt tại quyết định số 3088/QĐ-BNN-XD ngày 04/8/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Trong tổng diện tích đất thu hồi thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ, dự án thu hồi đất của hộ bà Huỳnh Thị C đang sử dụng với tổng diện tích 6.297 m2 thuộc thửa đất số 11, mảnh trích đo địa chính số 1, tại xã M, huyện N.

Theo hồ sơ xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của UBND xã M (xác nhận ngày 24/8/2016) có nguồn gốc do hộ ông Đoàn Văn P chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp vào năm 2008 sử dụng đến năm 2012 sang nhượng lại cho bà Huỳnh Thị C sử dụng cho đến nay.

Trên cơ sở xác định hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tại Văn bản số 736/SNNPTNT-KH ngày 23/3/2017 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xác định hộ bà Huỳnh Thị C sử dụng thửa đất số 11, diện tích 6.297 m2 nằm trong Quy hoạch rừng sản xuất.

Căn cứ kết luận và ý kiến chỉ đạo của Thường trực tỉnh ủy tại Thông báo số 172/TB-UB ngày 02/3/2017 và Văn bản số 753/UBND-NC ngày 08/3/2017 của UBND tỉnh Ninh Thuận.

1. Chấp thuận chủ trương bồi thường, hỗ trợ cho các trường hợp sử dụng đất trước ngày 01/7/2014…. Không nằm trong quy hoạch đất rừng;

2. Chấp thuận chủ trương hỗ trợ cho các trường hợp sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 … nằm trong quy hoạch đất rừng; mức hỗ trợ bằng mức bồi thường đất.

Từ những cơ sở trên UBND huyện N xác định:

Thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 tại xã M, huyện N với diện tích 6.297 m2 đất nằm trong quy hoạch đất rừng, thời điểm sử dụng năm 2008 không đủ điều kiện bồi thường, được xét hỗ trợ bằng mức bồi thường đất. Địa bàn xã M thuộc khu vực Trung du, đơn giá đất rừng sản xuất 7.000 đồng/m2 x diện tích đất bị thu hồi.

Việc bà huỳnh Thị C yêu cầu hủy Điều 1 Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 là không có cơ sở, không đúng với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Ninh Thuận tại Thông báo số 181/TB-VPUB ngày 31/5/2017 chỉ đạo rà soát hồ sơ xác định nguồn gốc đất, thời điểm và quá trình sử dụng đất đối với các hộ có đất nằm trong quy hoạch đất rừng, có thời điểm sử dụng trước ngày 01/7/2004 và đề xuất hướng giải quyết hài hòa có lý có tình phù hợp thực tế và đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đang của người dân.

Trên cơ sở rà soát xác định nguồn gốc của UBND xã M thì thửa đất thu hồi của hộ bà Huỳnh Thị C có nguồn gốc thời điểm sử dụng đất từ tháng 1/2004. UBND huyện đã có văn bản báo cáo gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để xem xét thẩm định, đề xuất UBND tỉnh hướng giải quyết theo nội dung Thông báo số 181/TB-UBND.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc:

- Hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

- Hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, ông Đoàn Văn H người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện có Đơn xin vắng mặt không tham dự phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, người khởi kiện không thay đổi, bổ sung hay rút đơn khởi kiện. Người bị kiện vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày. Hai bên không đối thoại được với nhau để giải quyết vụ án.

Căn cứ khoản 1, 2 và 9 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 5, 6 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013; xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc yêu cầu Tòa án hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N và hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N. Các Quyết định trên là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính; bà Huỳnh Thị C được quyền khởi kiện các quyết định này. Người bị kiện là UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận và thuộc trường hợp “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất; hỗ trợ khi thu hồi đất”.

Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N đã căn cứ vào quyết định số 222/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc ủy quyền UBND các huyện thành phố quyết định thu hồi đất theo khoản 3 Điều 66 Luật đất đai năm 2013. Xét thấy, UBND huyện N ban hành Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 thu hồi đất của hộ bà huỳnh Thị C là quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình và thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND huyện N. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xác định người bị kiện là UBND huyện N và không đưa UBND tỉnh Ninh Thuận với tư cách người bị kiện trong vụ án này.

* Xét thời hiệu khởi kiện các quyết định hành chính bị khiếu kiện:

Ngày 21/9/2016 UBND huyện N ban hành Quyết định số 2016/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N;

Ngày 30/3/2017 UBND huyện N ban hành Quyết định số 659/QĐ-UBND về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

Ngày 26/6/2017 bà Huỳnh Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016 ngày 21/9/2016 và Điều 1 Quyết định số 659 ngày 30/3/2017 của UBND huyện N. Căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì các Quyết định số 2016 ngày 21/9/2016 và Quyết định số 659 ngày 30/3/2017 của UBND huyện N còn trong thời hiệu khởi kiện.

* Xét yêu cầu hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N. (viết tắt là Quyết định số 2016):

- Về trình tự thủ tục ban hành Quyết định số 2016:

Dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ được Trung ương hỗ trợ đầu tư và được phê duyệt tại Quyết định số 3088/QĐ-BNN-XD ngày 04/8/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

UBND huyện N đã ban hành các Thông báo thu hồi đất số 68/TB-UBND ngày 11/4/2016 và Thông báo số 33/TB-UBND ngày 29/12/2016.

Ngày 21/9/2016 UBND huyện N ban hành Quyết định số 2035/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N.

Ngày 19/9/2016 phòng Tài nguyên và Môi trường UBND huyện N có tờ trình số 257/TTr-TNMT về việc thu hồi đất của UBND xã M quản lý do 26 hộ lấn chiếm sử dụng tại xã M, huyện Ninh Sơn để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi hồ Tân Mỹ)

Như vậy, Quyết định số 2016 ngày 21/9/2016 của UBND huyện N được ban hành đúng trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định tại Điều 69 của Luật đất đai 2013.

- Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 2035: Căn cứ khoản 2, Điều 66 Luật đất đai năm 2013, UBND huyện Ninh Sơn ban hành Quyết định số 2016 và Chủ tịch UBND huyện N thay mặt UBND huyện ký ban hành quyết định này là đúng thẩm quyền.

- Về nội dung của Quyết định số 2016:

Điều 1 của quyết định số 2016 có nội dung thu hồi 6.297 m2 đất của UBND xã M quản lý do hộ bà Huỳnh Thị C lấn chiếm sử dụng, thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính (hoặc trích đo địa chính) số 1, tại xã M, huyện N.

Nguồn gốc sử dụng đất: Tại Báo cáo số 182/BC-UBND ngày 22/6/2017 của UBND huyện N xác minh nguồn gốc 6.297 m2 đất thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 tại xã M huyện N có nguồn gốc do ông Đoàn Văn P khai phá tháng 1/2004 sử dụng đến năm 2007 sang nhượng lại cho bà Huỳnh Thị C, từ đó đến nay bà C trực tiếp sử dụng, được UBND xã M xác nhận sử dụng ổn định, không tranh chấp. Quá trình sử dụng đất bà C không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

UBND huyện N xác định 6.297 m2 đất của UBND xã M quản lý do hộ bà Huỳnh Thị C lấn chiếm sử dụng, thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1, tại xã M huyện N (theo Điều 1 Quyết định 2016) là không có căn cứ. UBND huyện N chỉ dựa trên Giấy xác nhận ngày 24/8/2016 của UBND xã M làm căn cứ để khẳng định đất này do hộ bà Huỳnh Thị C lấn chiếm đất rừng để sử dụng là không có cơ sở và UBND huyện N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc bà C lấn chiếm đất rừng để sử dụng.

Tại Bản đồ hiện trạng đất trống, đồi núi trọc huyện N năm 1998 xác định khu đất hộ bà Huỳnh Thị C đang sử dụng thuộc tiểu khu 88b, trên bản đồ được tô màu hồng theo chú thích là đất trống không có khả năng trồng rừng, nằm ngoài ranh giới đất thuộc quản lý của lâm trường, như vậy, từ năm 1998 khu vực này không phải là đất rừng.

Theo Kết luận số 3434/KL-UBND ngày 18/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc “Thanh tra việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp và đất lâm nghiệp đã điều chuyển đưa ra ngoài quy hoạch 03 loại rừng trên địa bàn huyện N” thì xã M không có hồ sơ quy hoạch 03 loại rừng, hiện tại hồ sơ lưu giữ tại UBND huyện N cũng bị thất lạc; phần ranh giới tiếp giáp với các huyện phía chân núi đa phần biến động mạnh, từ cột mốc ranh (chỉ có một số ít cột mốc) đến lưng chừng đồi núi toàn là rẫy của dân canh tác, rừng chỉ còn trên các sườn đồi núi đá (trang 5, 6 Kết luận số 3434/KL-UBND). Điều này phù hợp với biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/9/2017 của Tòa án. Đối chiếu hồ sơ với thực địa, diện tích 6.297 m2 đất thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 xã M không có mốc giới, không có tọa độ được đánh dấu bằng sơn đỏ trên các thân cây hoặc tảng đá, chỉ thấy đất bằng trồng cây bạch đàn keo lá tràm.

Quyết định số 241/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2007 – 2015 được ban hành vào năm 2007, trong khi đó diện tích 6.297 m2 này được ông Đoàn Văn P khai phá từ tháng 1/2004 đã được UBND huyện N xác nhận tại Báo cáo số 182/BC-UBND ngày 22/6/2017 và đến nay trên thực tế vẫn chưa được cắm mốc, phân khu xác định rõ ranh giới rừng trên thực địa. Tòa án đã tiến hành xác minh thực địa tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/9/2017, trong đó xác định diện tích 6.297 m2 đất thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ địa chính số 1 xã M trên đất không có cột mộc, không có công trình, vật kiến trúc nào phân định ranh giới rừng ngoài thực địa.

Từ những nội dung trên, xét thấy việc UBND huyện N xác định phần diện tích 6.297 m2 của hộ bà Huỳnh Thị C là đất do hộ bà C lấn chiếm sử dụng là không đúng với quy định của pháp luật, yêu cầu khởi kiện của bà C về việc hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N là hoàn toàn phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

* Xét yêu cầu hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện Ninh Sơn về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N có nội dung hỗ trợ cho bà Huỳnh Thị C thường trú tại thôn T, xã M để thực hiện công trình dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), tổng số tiền hỗ trợ là 44.079.000 đồng hỗ trợ về đất nằm trong quy hoạch đất rừng.

Điều 82 Luật đất đai năm 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất trong các trường hợp sau:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.

Căn cứ Văn bản số 753/UBND-TCD ngày 08/3/2017 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng dự án tuyến Kênh chính đập dâng Tân Mỹ theo kết luận của Thường trực tỉnh ủy tại Thông báo số 172 – TB/TU và Báo cáo số 53/BC-UBND ngày 28/02/2017 của UBND tỉnh Ninh Thuận về tình hình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tuyến Kênh chính đập dâng T, huyện N trong đó có nội dung kiến nghị như sau:

a. Chấp thuận chủ trương bồi thường, hỗ trợ cho các trường hợp sử dụng đất trước ngày 01/7/2014, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp được UBND xã xác nhận đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, diện tích đất sử dụng bị thu hồi không nằm trong quy hoạc đất rừng (theo Quyết định số 241/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 của UBND tỉnh). Diện tích đất được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại điều 129 Luật đất đai năm 2013; đối với diện tích đất vượt hạn mức không được bồi thường về đất mà được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại với mức hỗ trợ bằng mức bồi thường đất.

Như đã phân tích ở trên và căn cứ vào các quy định của pháp luật, việc UBND huyện N ban hành Quyết định số 2016 ngày 21/9/2016 thu hồi 6.297m2 đất của UBND xã M quản lý do hộ bà Huỳnh Thị C lấn chiếm sử dụng, thuộc thửa đất số 11 tờ bản đồ địa chính số 1, tại xã M huyện N là không phù hợp với quy định pháp luật, phần diện tích đất này của bà Huỳnh Thị C đủ điều kiện được Nhà nước bồi thường về đất khi thu hồi. Vì vậy UBND huyện N ban hành Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 chỉ hỗ trợ về đất khi thu hồi cũng không phù hợp với quy định của pháp luật yêu cầu khởi kiện của bà C về việc hủy Điều 1 Quyết định số 659 là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến tranh luận của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Đoàn Việt T: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc:

- Hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N;

- Hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Trần Minh Đ phát biểu ý kiến tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện.

Do yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C được chấp nhận nên UBND huyện N phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 164, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 206, Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ Điều 22, Điều 66, Điều 82 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị C về việc:

- Hủy Điều 1 đối với cụm từ “lấn chiếm sử dụng” của Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 của UBND huyện N về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án công trình Kênh chính đập dâng Tân Mỹ đoạn qua xã M, huyện N;

- Hủy Điều 1 Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của UBND huyện N về việc hỗ trợ cho hộ bà Huỳnh Thị C để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Kênh chính đập dâng Tân Mỹ (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) đoạn qua địa bàn xã M, huyện N.

3. Về án phí: UBND huyện N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghàn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị C 300.000đ (ba trăm nghàn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013780 ngày 03/7/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

n xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ