vanban.org

Bản án 37/2017/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1,4 m 2 có tổng diện tích là 36,7 m2 làm lối đi qua cho các chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi.

Tuyên xử: Theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện BĐ ngày Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th, Trần Thị Th T, Trần Thị 27/7/2017 thì đơn giá quyền sử dụng đất tại thửa 94, 172 tờ bản đồ số 27 xã Bình Th Ngọc T2, Khưu Thị B, Lê Thị Thanh X, Phạm Thị T3, Đặng Thị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Bà Trần Thị Th và ông Trần Văn Kh khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ph và ông Nguyễn Văn R mở lối đi"
  • Tòa quyết gì? 1,4 m 2 có tổng diện tích là 36,7 m2 làm lối đi qua cho các chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi.
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Dũng – Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre (Có mặt).
Bản án số: 37/2017/DS - ST
* Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:
Ngày: 16 - 8- 2017
V/v: “Tranh chấp quyền về lối đi
qua bất động sản liền kề”
tỉnh Bến Tre (Vắng mặt)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
tỉnh Bến Tre (Vắng mặt)
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE
tỉnh Bến Tre (Có mặt)
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
BĐ, tỉnh Bến Tre (Có mặt)
- Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Loan - Thẩm phán.
- Các Hội thẩm nhân dân:
tỉnh Bến Tre (Vắng mặt)
Bà: Phạm Thị Thu Trang.
Ông: Trương Văn Săng.
tỉnh Bến Tre (Có mặt)
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
Bình Th, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền ngày
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ tham gia phiên tòa:
18/5/2017.
Bà: Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
trú: Ấp 3,xã Bình Th, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền
Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến
ngày 15/8/2016. Ông Nh ủy quyền cho bà T3 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền
Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 306/2016/TLST-DS ngày 26
ngày 18/7/2017
tháng 7 năm 2016 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2017/QĐXX-DS
ngày 31 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn: 1/ Trần Thị Th, sinh năm 1961 (Vắng mặt).

Trong đơn Kh kiện ngày 18/7/2016, đơn Kh kiện bổ sung ngày 12/7/2017 Địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Bình Th, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. cũng như tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị Th, người kế 2/ Trần Văn Kh, sinh năm 1960. Ông Kh đã chết. thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn Kh trình bày như sau: Bà Thu, ông Kh được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thửa 396 tờ bản đồ số 3 xã Bình Th. * Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Kh gồm: Do gia đình là hộ nghèo của xã nên năm 2010 được xã Bình Th xét cấp kinh phí cất 1/ Trần Thị Thu T1, sinh năm 1987 (Có mặt) ngôi nhà tình thương theo diện chính sách hổ trợ hộ nghèo về nhà ở nên vợ chồng bà 2/ Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1989 (Vắng mặt) đã cất được ngôi nhà gắn liền với thửa đất số 396 nói trên. Để đi vào thửa đất của ông, bà thì cách nay ngoài 30 năm đi duy nhất bằng lối đi mà hiện tại ông R và bà Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Bình Th, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. Ph đã rào lại từ tháng 6/2016 đến nay không cho đi. Tại phiên toà hôm nay, bà Th * Bị đơn: 1/ Nguyễn Văn R, sinh năm 1967 (Có mặt) cũng như những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Kh yêu cầu toà án giải 2/ Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1969 (Có mặt) quyết buộc ông R và bà Ph phải dành một phần đất để dùng làm lối đi qua và theo kết quả đo đạc thực tế ngày 26/6/2017 của Toà án có chiều ngang 1m, dài hết thửa Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 3, xã Bình Th, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. đất 94, 172 tồ số 27xã Bình Th. Trong các đơn Kh kiện ngày 15/9/2017, 13/8/2016, 16/8/2016, 16/12/2016 (bl

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, người liên quan đều thừa nhận phần đất 118, 136, 148, 160) người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có tranh chấp yêu cầu mở lối đi thuộc đất của ông R, bà Ph nên đây không phải là lối gồm bà Nguyễn Thị L, Khưu Thị B, Đặng Thị H, Lê Thị Thanh X, Trần Văn Nh đi công cộng. Theo ông R thì ngoài lối đi này còn có lối đi khác để nguyên đơn, đều có cùng nội dung khởi kiện và yêu cầu như sau: Do thửa đất của các ông, bà có người liên quan đi vào đất của mình. Do đó, nguyên đơn, người liên quan Kh kiện là vị trí nằm ở phía sau thửa đất của ông R và bà Ph và để đi vào các thửa đất trên thì không có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. chỉ có một lối đi duy nhất là qua đất của ông R và bà Ph, từ tháng 6/2016 thì ông R,

Ý kiến của Kiểm sát viên: bà Ph đã rào lưới P40 không cho đi nên các ông, bà không thể đi vào thửa đất để

Thẩm phán có thực hiện đúng theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, gởi hồ sơ canh tác được. Tại phiên toà hôm nay các ông, bà có cùng yêu cầu khởi kiện với bà cho Viện kiểm sát được đảm bảo, việc gởi thông báo thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát, Th là yêu cầu toà án giải quyết buộc ông R và bà Ph phải dành một phần đất để dùng cho đương sự chưa đúng thời gian được quy định tại Điều 196 của Bộ luật tố tụng làm lối đi qua và theo kết quả đo đạc thực tế ngày 26/6/2017 của Toà án thì lối đi dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nguyên tắc xét xử theo này thuộc một phần thửa 172, 94 tờ bản đồ số 27 do ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn luật định. Thị Ph đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chiều ngang 1m, dài hết 2 thửa đất trên.

Người tham gia tố tụng thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của đương sự theo luật định. Ngày 09/3/2017 bà Nguyễn Thị L có đơn rút yêu cầu khởi kiện và Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà L và Quyết định này đã có

Về nội dung vụ án: Bà Ph, ông R được Ủy ban nhân dân huyện BĐ cấp giấy hiệu lực pháp luật. chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 94, 172 tờ số 27xã Bình Th. Bà Th cũng như những người liên quan có yêu cầu độc lập có quyền sử dụng đất ở những thửa đất Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2016, cũng như tại phiên toà phía sau được bao bọc bởi thửa đất của ông R, bà Ph. Tháng 6/2016 ông R, bà Ph hôm nay ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Ph trình bày: rào lưới P40 không cho nguyên đơn, người liên quan đi vào nhà, đất để sản xuất nên Thửa đất số 172 tờ số 27 diện tích là 464,4 m2 do bà Ph đứng tên giấy chứng nguyên đơn, người liên quan yêu cầu phía bị đơn phải mở lối đi có chiều ngang là nhận quyền sử dụng đất, thửa đất này có nguồn gốc là do cha mẹ bà Ph cho vào năm 1m, dài hết thửa đất của bị đơn. Bị đơn không đồng ý và cho rằng có lối đi khác. 1996. Thửa đất này nằm phía sau đất đất 94 tờ 27 nên từ năm 1996 vợ chồng ông, bà

Người bảo vệ cho bị đơn tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại không có lối đi mà phải đi vào nhà bằng cách đi trên bờ mẫu chưa đầy 2 gang tay yêu cầu của nguyên đơn. Qua xem xét, xác minh lối đi khác thì tại phiên tòa hôm thuộc thửa đất 94 tờ 27 (trước đó thuộc đất của bà Nguyễn Thị L). Đến năm 2009 thì nay nguyên đơn, người liên quan cho là không thể đi được và bị đơn cũng thừa nhận vợ chồng ông, bà mới mua thửa đất 94 tờ 27 từ ông Minh (do bà L đã bán cho ông mùa mưa thì ngập. Từ các cơ sở trên thấy việc nguyên đơn, người liên quan yêu cầu Minh), sau khi mua thửa đất số 94 thì vợ chồng ông, bà mới đắp con đường cao ráo bị đơn phải mở lối đi qua có chiều ngang 1m dài hết thửa đất 94, 172 của ông R là chạy thẳng từ lộ vào nhà của ông, bà. Đối với gia đình bà Th, ông Kh đi lối đi riêng phù hợp. Tuy nhiên, nguyên đơn và các người liên quan có yêu cầu mở lối đi nhưng đó là từ nhà cha mẹ ruột bà Th đi thẳng tới nhà bà. Từ khi vợ chồng ông, bà đắp không đồng ý đền bù, xét thấy lối đi hiện có tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp thành con đường cao ráo ở thửa 94, 172 thì gia đình bà Th mới dùng chung lối đi pháp của ông R, bà Ph nên nguyên đơn, người liên quan phải có nghĩa vụ đền bù thuộc đất của ông, bà từ thời điểm năm 2009. Tháng 6/2016 ông, bà rào lại không thiệt hại cho bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 275 của Bộ luật dân sự năm cho đi, là do ông Kh chồng bà Th hái trộm cây trồng, tài sản khác bị mất, ban đêm 2005.Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu xe máy chạy gây ồn ào và nhiều lần có yêu cầu ông Kh không phá tài sản nhưng ông Kh kiện của nguyên đơn, người liên quan là buộc ông R, bà Ph phải tháo dở hàng Kh không sửa đổi nên ông, bà phải rào lại để bảo vệ tài sản của chính mình. Qua yêu rào lưới P40 để dành một phần đất có diện tích 36,7 m2 tại một phần thửa 94, 172 tờ cầu Kh kiện của bà Th, bà B, bà X, bà H, ông Nh thì ông, bà không đồng ý với những bản đồ số 27 tọa lạc xã Bình Th để cho nguyên đơn, người liên quan dùng làm lối đi lý do như sau: qua bất động sản liền kề.

- Lối đi này không phải là lối đi công cộng;

Buộc nguyên đơn, người liên quan phải có nghĩa vụ đền bù thiệt hại cho bị

- Ngoài lối đi này thì các bà Th, bà B, bà X, bà H, ông Nh còn có lối đi khác đơn, theo định giá tài sản ngày 27/7/2017 thì có đơn giá quyền sử dụng đất là để đi vào thửa đất của họ. 1.150.000 đồng/ m2 nên phải có nghĩa vụ đền bù số tiền là 42.205.000đồng và chia Người bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông R trình bày: ra phần của mỗi người gồm nguyên đơn số tiền 8.441.000 đồng, phần của mỗi người liên quan là 8.441.000 đồng. Trong vụ án này Thẩm phán có những vi phạm nhỏ về tố tụng, kiến nghị Tòa

[2] Căn cứ vào lời khai của bị đơn (bl 190), những hộ dân lân cận ( bl 169, án khắc phục để thời gian tới thực hiện tốt hơn. 170,173, 174) có cơ sở để xác định phần lối đi mà bà Th, bà B, bà X, bà H, ông Nh Kh kiện ông R, bà Ph đã sử dụng từ những năm 1983. NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th, những người kế thừa quyền và Sau khi nghiên cứu toàn bộ chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được nghĩa vụ của ông Kh cũng như những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, yêu cầu độc lập gồm bà B, bà X, bà H, ông Nh có cùng yêu cầu bà Ph, ông R phải Hội đồng xét xử nhận định: mở lối đi có chiều ngang là 1m, dài hết thửa đất 94, 172 của ông R, bà Ph tại vị trí mà Tòa án đã tiến hành thẩm định ngày 26/6/2017 và căn cứ vào họa đồ ngày 1/ Thủ tục tố tụng: 10/8/2017 ( bl 400) thì nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Chị Trần Thị Ngọc T2 có đề nghị xin vắng mặt với lý do chị đã có chồng ở mở lối đi qua tại thửa 94-1a diện tích 21,6 m2 + thửa 172-1 diện tích 13,7 m2 + thửa xa. Bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật 172 a diện tích 1,4 m2 = 36,7 m2. Hội đồng xét xử, xét thấy: tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.

- Căn cứ vào hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 26/6/2017 xác định được 2/ Về nội dung vụ án: phần đất có yêu cầu mở lối đi qua thuộc thửa 94-1 có diện tích là 29,6 m2 + thửa [1] Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 22/9/2016 (Bl 172-1 có diện tích 14 m2 được biểu thị tại các điểm A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, N 93,94); hoạ đồ hiện trạng sử dụng đất thửa 94, 106, 172 tờ bản đồ số 27 xã Bình Th thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông R và bà Ph. Gắn liền với phần đất tranh ngày 26/6/2017 (Bl 102); biên bản xác minh ngày 3/7/2017, 4/7/2017 (Bl 180, 181, chấp thì tại chổ giáp giữa đất bà Ph, bà Lệ H, bà Th (thửa 172, 93, 106) được ông R, 183), căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD449301 ngày 13/10/2016 bà Ph xây 02 trụ xi măng (thể hiện tại 2 điểm JK) có khoảng cách là 0,87 m được (bl139); giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/8/2003 (bl 126), giấy chứng ông R, bà Ph xây bằng gạch từ mặt đất cao 0,5 m và xây cửa hàng rào lưới P40 có nhận quyền sử dụng đất ngày 10/9/1996 do Ủy ban nhân dân huyện BĐ cấp (bl 69); gắn ổ khoá, khoảng cách tại hai điểm AN là 1,45 m thì ông R và bà Ph dùng lưới biên bản lấy lời khai của bà Đặng Thị H ngày 14/3/2017 (Bl 132) có cơ sở để xác P40 để kéo qua không cho bà Th cũng như các người liên quan đi vào nhà, đất của định: họ.

- Thửa đất mang số 94 tờ 27 do ông Nguyễn Văn R đứng tên giấy chứng nhận

- Căn cứ vào biên bản xác minh, xem xét thẩm định tại chổ ngày 06/06/2017 quyền sử dụng đất, thửa 172 tờ bản đồ số 27 do bà Nguyễn Thị Ph đứng tên giấy (Bl 192, 193) theo đó thể hiện lối đi khác mà bị đơn cho rằng ngoài lối đi mà phía chứng nhận quyền sử dụng đất và ông R, bà Ph đang trực tiếp quản lý, sử dụng; thửa nguyên đơn có yêu cầu thì có lối đi này để bà Th đi vào nhà và đất của bà, qua xem đất 106 tờ 27 do bà Trần Thị Th đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xét, thấy rằng: Từ lối đi công cộng có một lối mòn chưa đầy 1 mét chiều ngang, từ đang trực tiếp sử dụng đất; thửa 91, 93 tờ số 27 do bà Nguyễn Thị Lệ H đang trực lối mòn này để vào thửa đất 89-1 của bà Đặng Thị H phải đi xen lẫn của rất nhiều tiếp quản lý, sử dụng; thửa 92 tờ số 27 do bà Lê Thị Thanh X sử dụng; thửa 83 tờ số ngôi mộ mới đến đất của bà H được (bl 193). Nếu dùng lối đi này thì từ chổ đất của 27 do ông Trần Văn Nh đang trực tiếp sử dụng; thửa 84 tờ 27 do chị Nguyễn Thị L1 bà H đến được đất của bà Thu phải đi một đoạn trên bờ mẫu của các thửa đất 84-1+ sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thửa 90 tờ số 27 do ông 83-1 + 92-1 + 93-1 có chiều dài là 26,6 m thuộc 6 chủ sử dụng đất liền kề ( Bl 185) Huỳnh Thanh Ph đang trực tiếp sử dụng, thửa 89 tờ 27 do bà Đặng Thị H sử dụng; và qua xem xét thực tế thì toàn bộ bờ mẫu này mùa mưa nước bị ngập không thoát thửa 164 tờ 27 do bà Khưu Thị B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. nước được và điều này cũng được phía bị đơn cũng như một số hộ dân lân cận xác định là không thể sử dụng làm lối đi khi vào mùa mưa (bl 169, 175, 180). Như vậy:

- Các thửa đất mang số 93, 92, 83, 84, 89, 90, 91,164, 106 cùng tờ bản đồ số lối đi do phía bị đơn xác định là không thuận tiện và hợp lý. 27 toạ lạc xã Bình Th bị bao bọc bởi các bất động sản liền kề và nằm ở vị trí phía sau của thửa đất mang số 94, 172 tờ số 27 do bà Ph, ông R là chủ sở hữu của bất

Từ những phân tích trên có căn cứ để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên động sản nói trên. đơn, người liên quan có yêu cầu độc kiện ông R và bà Ph phải dành một phần diện tích đất tại vị trí thuộc một phần thửa 94 và một phần thửa 172 do ông R, bà Ph

- Phần diện tích đất mà nguyên đơn, người liên quan có yêu cầu mở lối đi qua đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được coi là thuận tiện và hợp lý nhất. có diện tích là 36,7 m2 thuộc một phần thửa 94, 172 tờ bản đồ số 27 do ông Nguyễn Tuy nhiên, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người liên quan đòi phải mở lối Văn R, bà Nguyễn Thị Ph đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. đi qua có khoảng cách 1m ngang . Hội đồng xét xử, thấy rằng: Mặc dù, phía ông R và bà Ph rào lại nhưng thực tế có giao chìa khóa cho các bà Lê Thị Lệ H đi vào thửa đất của ông bà để sử dụng và bà này đã đi được vào thửa đất của mình để canh tác quyết với tài sản này mà ông R, bà Ph phải tự tháo dở mà phía nguyên đơn, người đất được. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người liên quan yêu cầu phải liên quan không phải chịu chi phí. mở lối đi tại hai điểm KJ có khoảng cách 1m là không hợp lý nên Hội đồng xét xử

[4] Về chi phí tố tụng: không chấp nhận mà chấp nhận mở lối đi tại hai điểm trên theo hiện trạng thực tế là

Căn cứ vào hoá đơn bán hàng ngày 12/12/2016 (bl 97), biên lai thu tiền phí, lệ 0,87m biểu thị tại hai điểm KJ. phí (bl 101, 312) thì tổng số chi phí cho việc đo đạc là 7.497.000đồng, chị phí định Đối với yêu cầu đòi mở lối đi qua tại hai điểm AN có khoảng cách là 1m, xét giá là 300.000đồng (bl 271). Như vậy: tổng số tiền chi phí tố tụng là 7.797.000 đồng thấy: việc yêu cầu này là hợp lý, thuận tiện cho việc đi lại với mục đích là đi vào và chi phí này do phía bà Trần Thị Th đã tạm ứng và đã quyết toán xong. Tại phiên nhà, vào đất để sản xuất nên được chấp nhận. toà bà Th có yêu cầu Toà án giải quyết số chi phí này. Do yêu cầu khởi kiện của bà [4] Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất (bl 400) thì đối với các điểm I, F, E, D, Th được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào Điều 157, 158,165, 166 của Bộ luật C, B, A là hiện trạng lối đi do nguyên đơn xác định và có những điểm có khoảng tố tụng dân sự thì trong trường hợp này toàn bộ chi phí tố tụng do phía bị đơn phải cách tới đường AN là trên 1m, ít hơn 1m. Trong đó: thì tại điểm H đến đường NK có chịu và bà Ph, ông R phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 7.797.000 đồng cho bà Th. khoảng cách là 0,73m là khoảng cách ít nhất trong các điểm mà nguyên đơn đã xác

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu Kh kiện của nguyên định, thấy rằng với khoảng cách 0,73 m tại điểm H nếu phải mở lối đi qua là không đơn, người liên quan được chấp nhận toàn bộ. Căn cứ vào khoản 4 Điều 26 Nghị thuận tiện. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tại các điểm J, I, H, G, E và các điểm quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, này nối liền đến điểm N’ có khoảng cách là 1m dùng làm lối đi qua cho nguyên đơn, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án thì ông R và bà Ph người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu là hợp lý, thuận tiện và thiệt hại phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định là: gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. 42.205.000đồng x 5% = 2.110.200 đồng. Từ những cơ sở trên buộc ông R và bà Ph phải dành một phần đất thuộc

Vì các lẽ trên, quyền sử dụng hợp pháp của mình tại các điểm N, N’, E, G, H, I, J, K, N thể hiện tại các thửa 94-1a diện tích: 21,6m2 + thửa 172-1 diện tích 13,7m 2 + thửa 172a diện tích

QUYẾT ĐỊNH:

1,4 m 2 có tổng diện tích là 36,7 m2 làm lối đi qua cho các chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi.

Áp dụng Điều 245, 246, 248, 254, 287 của Bộ luật dân sự; Điều 157, 158, 164,165 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Đối với các chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua gồm: Bà Trần ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và Thị Th,Trần Thị Th T, Trần Ngọc T2, Lê Thị Thanh X, Khưu Thị B, Trần Văn Nh sử dụng án phí và lệ phí toà án . phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền là ông R, bà Ph một khoản tiền được quy định tại Điều 254 của Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện BĐ ngày

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th, Trần Thị Th T, Trần Thị 27/7/2017 thì đơn giá quyền sử dụng đất tại thửa 94, 172 tờ bản đồ số 27 xã Bình Th Ngọc T2, Khưu Thị B, Lê Thị Thanh X, Phạm Thị T3, Đặng Thị H, ông Trần Văn là 1.150.000đồng/m2. Vì vậy, các chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền nói trên có Nh. Về việc: “Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”. nghĩa vụ liên đới đền bù cho bà Ph, ông R số tiền là: 36, 7m 2 x 1.150.000 đồng/ m2

2. Buộc ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Ph phải dành một phần diện = 42.205.000 đồng. tích đất thuộc một phần thửa 94, 172 tờ bản đồ số 27 tọa lạc xã Bình Th thuộc quyền Đối với mỗi chủ sở hửu bất động sản hưởng quyền sử dụng lối đi qua là như sử dụng hợp pháp của ông, bà để dùng làm lối đi qua cho các bà Trần Thị Th, Trần nhau nên phải có nghĩa vụ riêng rẽ từng phần của mỗi người là bằng nhau. Do đó, Thị Th T, Khưu Thị B, Lê Thị Thanh X, Trần Văn Nh, Trần Thị T3, Đặng Thị H có phần tiền đền bù của mỗi chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền cho bà Ph và ông R diện tích là 36,7 m2 thuộc thửa 94-1a + thửa 172-1 +thửa 172a theo họa đồ hiện là 8.441.000đồng. trạng sử dụng đất ngày 10/8/2017 kèm theo. Đối với hàng rào lưới P40 thì đây là loại vật không tiêu hao nên qua xem xét

3. Buộc các bà Trần Thị Th, Trần Thị Th T, Trần Thị Ngọc T2, Khưu Thị B, thì nếu phía ông R, bà Ph tự tháo dở phần tài sản này thì sẽ không làm ảnh hưởng Lê Thị Thanh X, Trần Văn Nh, Trần Thị T3, Đặng Thị H phải có nghĩa vụ liên đới đến giá trị sử dụng còn lại của tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị Ph số tiền là 42.205.000đồng. Cụ thể phần của mỗi người là:

- Bà Trần Thị Th, Trần Thị Th T, Trần Thị Ngọc T2 phải liên đới bồi thường

Hoàn trả cho bà Đặng Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng (Hai số tiền là 8.441.000đồng (Tám triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0010267 ngày 03/01/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ.

- Bà Khưu Thị B phải bồi thường số tiền là 8.441.000đồng (Tám triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).

Hoàn trả cho bà Lê Thị Thanh X số tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0010265 ngày 03/01/2017 của Chi

- Bà Lê Thị Thanh X phải bồi thường số tiền là 8.441.000đồng (Tám triệu bốn cục thi hành án dân sự huyện BĐ. trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).

Hoàn trả cho ông Trần Văn Nh số tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng

- Bà Đặng Thị H phải bồi thường số tiền là 8.441.000 đồng (Tám triệu bốn (Hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0010264 ngày 03/01/2017 của Chi trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). cục thi hành án dân sự huyện BĐ.

- Bà Trần Thị T3 và ông Trần Văn Nh phải liên đới bồi thường số tiền là

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 8.441.000đồng (Tám triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế hành án của chị Nguyễn Thị Ph, ông Nguyễn Văn R cho đến khi thi hành án xong, thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong luật dân sự. hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có 4. Buộc ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Ph phải có nghĩa vụ tự tháo dở quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ hàng rào lưới P40 tại đoạn KJ và NN’. Nguyên đơn, người liên quan có yêu cầu độc ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. lập không phải chịu chi phí. 5. Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn R, bà Nguyễn Thị Ph phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền 7.797.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm chín bảy ngàn đồng) cho bà Trần Thị

Cỡ chữ