vanban.org

Bản án 369/2026/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Thành P.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 823/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [1] Tuyên bố: Bị cáo Lý Thành P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thành P - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Thành P.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 369/2026/HS-PT
Ngày: 09-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Hoà Hiệp

Ông Ngô Mạnh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Loan, Thư ký viên Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn H, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2026/TLPT-HS ngày 10/02/2026, đối với bị cáo Lý Thành P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 823/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lý Thành P, sinh ngày 10/7/1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: 1 T, Phường A, Quận F - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán hủ tíu; Trình độ học vấn: 0/12; Cha là Lý Văn P1 (đã chết); Mẹ là Lai Thị M (đã chết); Bị cáo có vợ là Phan Thị Thanh T, đã ly hôn và có 01 người con sinh năm 2011 đang sinh sống với bà T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lý Thành P: Ông Đỗ Hiếu T1, là Luật sư của Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt).

- Bị hại: Bà Tang J (Huỳnh Bội Q), sinh năm 1968; Quốc tịch: Canada; Địa chỉ: Dr Vancouver V BC, Canada; Địa chỉ liên hệ tại Việt Nam: A T, Phường A, Quận F - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Nguyễn Văn N, là Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Lý Thế L, sinh năm 2002; Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận F - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bà Từ Mỹ T2, sinh năm 2005;

3. Ông Huỳnh Bội Đ, sinh năm 1965;

4. Bà Cam A K, sinh năm 1962;

Cùng địa chỉ: A T, Phường A, Quận F - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (bà T2 có mặt; các ông bà L, Đ và K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 23/8/2023, Lý Thành P đang bán hủ tíu tại trước nhà 1 đường T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Tang J (tên gọi khác là Huỳnh Bội Q, sinh năm 1968, quốc tịch: Canada), ông Huỳnh Bội Đ (sinh năm 1965; nơi thường trú: 1 T, Phường A, Quận F là anh của T4), bà Cam A K (sinh năm 1962; nơi tạm trú: A T, Phường A, Quận F là vợ của ông Huỳnh Bội Đ) và bà Từ Mỹ T2 (sinh năm 2005; nơi thường trú: A T, Phường A, Quận F là cháu gọi ông Huỳnh Bội Đ là cậu) đến gặp P để nói chuyện về việc P nói xấu bà Tang J nợ tiền người khác nhưng không trả. Sau khi tranh cãi qua lại, bà Tang J lấy cây dao (của P dùng để cắt thịt để trên thớt gần đó) chỉ về phía P sau đó thì đặt xuống lại, P cầm cây giá trụng hủ tíu giơ lên. Lý Thế L (sinh năm 2002, nơi thường trú: A T, Phường A, Quận F; nơi tạm trú: 1 T, Phường A, Quận F là cháu của Lý Thành P) nghe ồn ào từ trong nhà đi ra nhìn thấy bà Tang J cầm dao đưa về phía P nên đã chạy đến dùng tay đánh 2 đến 3 cái vào mặt bà Tang J làm bà Tang J ngã xuống. Khi đó, P cầm nồi nước lèo hủ tíu đang đun nóng để trên bếp hất vào bà Tang J, ông Đ, bà K và chị T2 làm những người này bị bỏng. Tiếp sau đó, ông Đ cầm ghế nhựa gần đó đánh vào người L rồi cả hai xông vào đánh nhau qua lại.

Sau đó, L được can ngăn nên đi vào nhà, còn ông Đ và bà Tang J tiếp tục lấy ghế nhựa đánh và lấy tô ném vào P làm Phúc bị thương chảy máu vùng đầu. Thấy vậy, L chạy ra tiếp tục đánh nhau với hai người trên và được hàng xóm đến can ngăn.

Đến 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2023, Lý Thành P đến Công an phường T trình báo sự việc trên. Về phía bà Tang J được đưa vào Bệnh viện N1 cấp cứu.

Ngày 21/11/2024, Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số 2280/UBND về việc đánh giá tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội xác định:

“1. Hành vi của các đối tượng như diễn biến vụ án nêu trên chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

2. Trước nhà số A đường T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là nơi công cộng mà là lối đi chung của khu dân cư hẻm A T, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh”.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 715/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 10/10/2023 của Trung tâm P3 - Sở Y tế Thành phố P3 xác định “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của T4 tại thời điểm giám định là 19%”.

Tại Công văn số 715-GT/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 09/11/2023 của Trung tâm P3 - Sở Y tế Thành phố P3, về việc giải thích kết luận giám định của bà Tang J như sau: “Đa chấn thương phần mềm gây sưng bầm có tỷ lệ: 00%. Bỏng da có tỷ lệ: 19%”.

Tại cơ quan điều tra, Lý Thành P khai nhận hành vi phạm tội như trên và phù hợp với lời khai của các nhân chứng, lời khai của bị hại, kết quả khám nghiệm hiện trường và giám định hình ảnh camera ghi nhận tại hiện trường vụ án.

Vật chứng của vụ án: Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 5225/LNK-VPCQCSĐT-Đ3 ngày 25/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H, gồm: 01 con dao, 01 cái nồi, 01 cái tô bằng sành (đã bị vỡ), 02 ghế nhựa, sẽ chuyển đến Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Tang J có đơn yêu cầu bồi thường về chi phí điều trị là 100.622.436 đồng và tổn thất tinh thần là 45.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 145.622.436 đồng. Hiện bị can Lý Thành P chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 290/CT-VKS-P2 ngày 28/4/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lý Thành Phúc về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 823/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Lý Thành P 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590, 593 của Bộ luật Dân sự,

Buộc bị cáo Lý Thành P bồi thường cho bị hại T4 số tiền 145.622.436 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 07/01/2026, bị cáo Lý Thành P kháng cáo xin được hưởng án treo.

Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lý Thành P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo P làm trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về mặt hình thức.

2. Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo P:

- Về tội danh: Bị cáo P đã có hành vi cầm nồi nước lèo đang sôi tạt vào bà Tang J, ông Đ, bà K và bà T2 làm cho những người này bị thương tích; trong đó bà Tang J bị thương tích với tỷ lệ 19%. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Về hình phạt: Bản án sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và tuyên phạt bị cáo P 02 năm tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra cho bà Tang J. Tuy nhiên, trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo P đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bà Tang J. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đồng thời căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo 06 tháng tù.

Hành vi của bị cáo P dùng nước lèo tạt vào các bà Tang J, ông Đ, bà K và bà T2 là nguy hiểm, có khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người nên bị cáo xin được hưởng án treo là không có cơ sở để chấp nhận.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Thành P phát biểu:

- Về tội danh: Luật sư không tranh luận.

- Về hình phạt: Hoàn cảnh gia đình bị cáo P hiện nay rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi anh ruột là ông Lý A X đang bị tai biến nằm một chỗ; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng; tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Tang J. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Lý Thành P phát biểu: Bị cáo P đồng ý với ý kiến và yêu cầu của Luật sư.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Tang J phát biểu: Bị cáo P bị xét xử theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên không thể cho hưởng án treo; việc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại chỉ là căn cứ để có thể giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo P đã từng có tiền sự và bị Công an P4, Quận F (nay là phường P) xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng vào năm 2019. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xác minh tiền sự của bị cáo P.

Bà Từ Mỹ T2 phát biểu: Bà T2 không phát biểu tranh luận.

Bị cáo P không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lý Thành P làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo P, nhận thấy:

Về tội danh:

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bà Tang J là người bị hại, lời khai của những người liên quan là các ông bà Lý Thế L, Từ M, Huỳnh Bội Đ, Cam A K; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, dữ liệu hình ảnh camera; phù hợp với Kết luận giám định số 715/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 10/10/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố P3; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ để kết luận:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 23/8/2023, bà Tang J, ông Huỳnh Bội Đ, bà Cam A K và bà Từ Mỹ T2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ẩu đả, xô xát với Lý Thành P và Lý Thế L. Do bị đánh nên P đã cầm nồi nước lèo hủ tíu đang để trên bếp đun nóng hất nước lèo trúng bà Tang J, ông Đ, bà K và bà T2 làm những người này bị thương tích, trong đó bà Tang J bị tổn thương cơ thể là 19%, ông Đ, bà K và bà T2 từ chối giám định.

Lý Thành P là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, bị cáo ý thức được việc dùng nước lèo đang sôi tạt vào những người nêu trên là có khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, nhưng vì xuất phát từ mâu thuẫn nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Với hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo P về tội “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm có xem xét nhân thân, hoàn cảnh phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cụ thể, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nguyên nhân dẫn đến vụ án có một phần lỗi của người bị hại. Do đó, bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bị cáo P 02 năm tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Hành vi của bị cáo P dùng nước lèo tạt vào các bà Tang J, ông Đ, bà K và bà T2 là nguy hiểm, có khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người nên bị cáo xin được hưởng án treo là không có cơ sở để chấp nhận.

Tuy nhiên, nhận thấy tại cấp phúc thẩm, ý thức được hành vi phạm tội của mình, thật sự ăn năn hối cải, bị cáo P đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bà T3 Jenny là 145.622.436 đồng theo biên lai thu số 0008963 ngày 13/5/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, cần thiết áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Tang J cho rằng tháng 7/2019, bị cáo P đã từng đánh bà Huỳnh Bội P2, bà Từ Quế A, bị Công an P4, Quận F - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng nên yêu cầu Toà án xác minh tiền sự này. Xét thấy, yêu cầu này của Luật sư là không có căn cứ để chấp nhận, bởi quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh lý lịch của bị cáo P và tại Trích lục tiền án, tiền sự số 6987124/PV06 ngày 03/5/2024 của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ (PV06) - Công an Thành phố H (bút lục số 192-194) xác định bị cáo P không có tiền án, tiền sự; đồng thời sau khi xét xử sơ thẩm, bà Tang J không kháng cáo.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị cáo P là có căn cứ một phần để chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm theo nhận định trên đây như đề nghị của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo P đã bồi thường xong.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Thành P.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 823/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lý Thành P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025,

Xử phạt: Lý Thành P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lý Thành P đã bồi thường xong.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lý Thành P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ