- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "368-2026 DSPT L. - Cty P. HĐCN QSDĐ)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Thanh L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực – An Giang.
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Đất đai; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________ Bản án số: 368/2026/DS-PT Ngày : 22/7/2026 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán biệt thự; Hợp đồng dịch vụ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Thẩm phán: Ông Đào Chí Keo và bà Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 288/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán biệt thự; Hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2026/QĐ-PT ngày 01 tháng 6 năm 2026 và Thông báo dời ngày xét xử số 631/2026/TB-DS ngày 25 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Thanh L, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Số D đường số D, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Thanh L:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1996 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A đường N, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần P; địa chỉ: Khu T, Tổ E, khu phố Đ, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Trung K – Chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1984; nơi cư trú: 332 C (Tổ H), phường H, Thành phố Hà Nội (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; nơi cư trú: TDP C P, phường T, Thành phố Hà Nội (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 2001: Tầng 10, tòa nhà V, số A Đại lộ T, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Thành C là Luật sư thuộc Công ty L3 và Cộng sự; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số A Đại lộ T, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Hương G, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số D đường số D, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Thanh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Thanh L và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Ngày 27/11/2018 ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P ký kết Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN để mua bán Biệt thự tại địa chỉ: Ô số V thuộc lô S Khu T and Resort 2 tại Khu P, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Giá bán biệt thự là 6.651.298.634 đồng.
Ngày 27/11/2018 ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P ký kết Hợp đồng dịch vụ số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở đối với ô đất số V18 thuộc lô số SV09 Khu tổ hợp du lịch Sonasea Villas and Resort 2 tại Khu P, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang; Chi phí để thực hiện việc xin chuyển đổi ô đất sang đất ở không hình thành đơn vị ở là 582.009.318 đồng.
Nay ông Lê Thanh L yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P về việc mua bán căn biệt thự ô V18 lô SV09 thuộc dự án Khu T and R, tại tổ E, ấp Đ, xã D, thành phố P, Kiên Giang.
- Buộc Công ty Cổ phần P phải hoàn trả cho ông Lê Thanh L số tiền đã nộp theo Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 là 6.318.733.702 đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu số tiền là 8.151.166.476 đồng (tính đến ngày 27/01/2025).
- Tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN ký ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P.
- Buộc Công ty Cổ phần P trả lại cho ông L số tiền đã nộp theo hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị là 582.009.318 đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị bị vô hiệu số tiền là 750.792.020 đồng (tính đến ngày 27/01/2025).
Căn cứ dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự vô hiệu:
a) Công ty P có hành vi gian lận, lừa dối trong kinh doanh bất động sản. Cụ thể:
Phía Công ty P khi lập dự án và thuê đất của tỉnh Kiên Giang đã biết rõ đất thuê lập dự án thuộc trường hợp không được phép chuyển nhượng, nhưng quá trình giao kết phía Công ty P đã giấu thông tin không thông báo cho bên mua biết rõ tình trạng đất thuê không được phép chuyển quyền sử dụng đất tạo ra sự mập mờ làm cho việc mua nhầm lẫn khi ký đồng mua biệt thự dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu do không được chuyển quyền sử dụng đất gắn với mua biệt thự.
b) Công ty P cho bán biệt thự vi phạm khoản 1 và 3 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản 2014. Cụ thể là:
Khoản 1, 3 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 quy định như sau:
Điều 19. Nguyên tắc mua bán nhà, công trình xây dựng
1. Việc mua nhà, công trình xây dựng phải gắn với quyền sử dụng đất.
3. Bên mua nhà, công trình xây dựng, các căn hộ, phần diện tích trong nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp nhiều mục đích sử dụng được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo quy định này thì mua bán nhà/biệt thự thì phải gắn với điều kiện là quyền sử dụng đất phải sang tên người mua mới là hợp pháp.
Ngày 13/05/2024 UBND Tỉnh K có văn bản số 955/UBND-NC trả lời Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã nêu rõ “Do đó trong trường hợp quyền sử dụng đất này đủ điều kiện cho thuê lại thì người thuê cũng sẽ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Đối chiếu với khoản 1 và 3 Điều 19 Luật kinh doanh bất động sản 2014 thì mặc dù hai bên đã ký kết hợp đồng mua bán biệt thự có quy định về điều kiện là cấp giấy chứng nhận (Điều 7 hợp đồng) cho bên mua, nhưng Công ty P không được phép chuyển quyền sử dụng đất cho người mua được, vì nhà (biệt thự) đã bán không thể gắn liền với quyền sử dụng đất của bên mua (dù đã thu tiền sử dụng đất của bên mua), do đó đã vi phạm/trái quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản 2014.
Như vậy, Công ty P kinh doanh bất động sản đối với căn biệt thự của tôi nhưng không sang tên quyền sử dụng đất, không thông tin đầy đủ tình trạng thái pháp lý cho khách hàng về tình trạng đất không được chuyển nhượng cho thấy có sự gian lận, lừa dối do giấu thông tin với khách hàng là vi phạm điều cấm của Luật Kinh doanh bất động sản 2024 (tại khoản 1, 3, 4 Điều 8 Kinh doanh bất động sản 2024).
Điều 8 Luật Kinh doanh bất động sản 2024 quy định như sau:
Điều 8. Các hành vi bị cấm
1. Kinh doanh bất động sản không đủ điều kiện theo quy định của Luật này.
2. Quyết định việc đầu tư dự án bất động sản không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Không công khai hoặc công khai không đầy đủ, trung thực thông tin về bất động sản.
4. Gian lận, lừa dối trong kinh doanh bất động sản.
Căn cứ quy định tại Điều 117, 122, 123, 127 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp mua bán biệt thự sẽ vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do bị lừa dối.
Điều 117, 122, 123, 127 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập:
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân tộc có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của Công ty P: Bên bán là Công ty P đã có lỗi vi phạm quy định về công khai thông tin về bất động sản tại điểm h khoản 2 Điều 6, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 22 và có dấu hiệu lừa dối khách hàng, kinh doanh vi phạm quy định của Luật Kinh doanh bất động sản vì vậy đã vi phạm điều cấm quy định tại Điều 8 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014. Do đó Công ty P là bên có lỗi trong giao dịch, nên phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho tôi. Thiệt hại là lãi suất vay 1,5%/tháng (tương đương với lãi suất cho vay của ngân hàng) vì chúng tôi phải đi vay ngân hàng đề đầu thứ tư. Căn cứ chứng minh thiệt hại do hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu:
- Thực hiện hợp đồng mua bán biệt thự tôi đã thanh toán 6.318.733.702 đồng (95%). Riêng 5% còn lại là 332.564.931 đồng thì sẽ thanh toán khi cấp giấy chứng nhận (Giá mua bán 6.651.298.634 đồng). Thời điểm thanh toán lần cuối vào ngày 18/06/2019 (theo xác nhận ngày 18/6/2019 của Công ty P).
- Thiệt hại là khoản tiền lãi tính theo mức lãi là 1,5%/tháng (tức là 18%/năm) tính từ thời điểm thanh toán lần cuối là ngày 18/06/2019 tạm tính đến thời điểm tháng 07/2024 là 68 tháng. Mức thiệt hại là: 6.318.733.702 đồng x 1,5%/tháng x 68 tháng = 6.445.108.376 đồng.
Mức tiền tổn hại do hợp đồng dịch vụ bị vô hiệu (bổ sung): Đồng thời Công ty P là bên có lỗi làm hợp đồng dịch vụ bị vô hiệu do đó phải bồi thường thiệt hại cho tôi với mức lãi 1,5%/tháng (18%/năm) của số tiền dịch vụ đã nộp 582.009.318 đồng. Tính từ ngày ký đồng 27/11/2018 đến tháng 07/2024 (thời điểm bổ sung yêu cầu) là 68 tháng. Mức thiệt hại là: 582.009.318 đồng x 1,5%/tháng x 68 tháng = 593.649.504 đồng.
* Tại văn bản ngày 03/01/2025 Công ty Cổ phần P trình bày:
1. Về giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn:
- Ngày 27/11/2018, Công ty và ông Lê Thanh L ký kết Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN (sau đây xin gọi tắt là “Hợp đồng mua bán biệt thự”), theo đó Công ty chuyển nhượng cho ông Lê Thanh L căn biệt thự xây thô và hoàn thiện mặt ngoài tại Dự án Khu tổ hợp du lịch Sonasea Villas and R tại Khu P, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang do Công ty làm chủ đầu tư.
- Ngày 27/11/2018, Công ty và ông Lê Thanh L ký kết Hợp đồng dịch vụ số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN (sau đây xin gọi tắt là “Hợp đồng dịch vụ”). Theo đó ông Lê Thanh L đồng ý thuê Công ty cung cấp dịch vụ chuyển đổi toàn bộ ô đất Biệt thự theo quy định của Hợp đồng mua bán Biệt thự từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở theo các điều kiện và điều khoản của Hợp đồng dịch vụ.
Các hợp đồng nêu trên đều được ký kết và thực hiện trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.
2. Về các yêu cầu của nguyên đơn:
2.1. Đối với yêu cầu "Tuyên giao dịch vô hiệu đối với Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P về việc mua bán căn biệt thự ô V18 lô SV09 Khu tổ hợp du lịch Sonasea Villas and Resort 2 (Khu P) tại tổ E ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang".
Theo quy định tại khoản 1 Điều 407 Bộ luật Dân sự, "quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu." Theo các quy định từ Điều 123 đến Điều 129 Bộ luật Dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu trong các trường hợp: do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạo; do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự, "Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu".
Đối chiếu với các quy định nêu trên, Hợp đồng mua bán biệt thự không thuộc các trường hợp hợp đồng vô hiệu; giao dịch giữa các bên theo hợp đồng này đáp ứng đầy đủ các điều kiện của giao dịch dân sự có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Cụ thể là:
- Các bên có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự;
- Việc ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không có yếu tố nhầm lẫn hay bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Cụ thể, Hợp đồng mua bán biệt thự được ký kết trên cơ sở tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên với những hiểu biết đầy đủ về các quy định pháp luật liên quan cũng như về toàn bộ các điều khoản trong Hợp đồng. Nguyên đơn tham gia giao kết hợp đồng với đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự và vì vậy được coi là có nhận thức và hiểu biết về pháp luật. Tại điểm b khoản 14.1 Điều 14 Hợp đồng mua bán biệt thự, nguyên đơn (Bên Mua) cũng đã cam kết “đã tìm hiểu, xem xét kỹ thông tin về B. Bên Mua xác nhận việc giao kết Hợp đồng này là hoàn toàn tự nguyện".
- Mục đích và nội dung Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đối tượng của Hợp đồng mua biệt thự là hợp pháp, việc chuyển nhượng biệt thự có thể thực hiện được theo quy định pháp luật và pháp lý dự án.
- Hợp đồng được xác lập bằng văn bản, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hình thức theo quy định pháp luật.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, chúng tôi khẳng định yêu cầu của nguyên đơn về là không có cơ sở.
2.2. Đối với yêu cầu "Buộc Công ty Cổ phần P phải hoàn trả cho ông Lê Thanh L số tiền đã nộp theo Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 là 6.318.733.702 đồng” và “Buộc Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu số tiền là 5.781.641.337 đồng (tạm tính đến tháng 07/2024).
Từ những nhận định về hiệu lực của Hợp đồng mua bán biệt thự tại mục 2.1 nêu trên, chúng tôi khẳng định yêu cầu của nguyên đơn về việc Công ty phải hoàn trả số tiền nguyên đơn đã thanh toán theo Hợp đồng mua bán biệt thự và bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn là không có cơ sở. Hợp đồng mua bán biệt thự đã ký kết giữa hai bên hoàn toàn hợp pháp, có hiệu lực đầy đủ, có giá trị ràng buộc giữa các bên; thực tế thực hiện hợp đồng, Công ty luôn thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình, không có bất kỳ hành vi phạm Hợp đồng nào. Do đó, Công ty khẳng định: (i) Việc nguyên đơn thanh toán tiền mua biệt thự cho Công ty là thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng mua bán biệt thự, Công ty không có nghĩa vụ hoàn trả; và (ii) Công ty không “có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu” (Hợp đồng mua bán biệt thự không vô hiệu, như đã phân tích tại mục 2.1 nêu trên) nên không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
2.3. Đối với yêu cầu “Tuyên bố giao dịch vô hiệu đổi với Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN ký ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P".
Công ty khẳng định Hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa ông Lê Thanh L và Công ty trên cơ sở quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất ở không hình thành đơn vị ở (đất ở để xây dựng biệt thự du lịch, không hình thành đơn vị ở), cụ thể là Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 của UBND Tỉnh K về việc ban hành Quy chế quản lý việc chuyển đổi đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch trên địa bàn đảo P. Quy chế này quy định về điều kiện, trình tự thủ tục thực hiện chuyển đổi một phần đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch; hình thức sử dụng, khai thác, quản lý các biệt thự du lịch sau khi chuyển đổi để đảm bảo không hình thành đơn vị ở các dự án phát triển du lịch trên địa bàn đảo P theo Quyết định số 868/QĐ-TTg ngày 17/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 và Quyết định số 868/QĐ-TTg ngày 17/6/2015 nêu trên đã được dẫn chiếu đầy đủ, chính xác trong phần căn cứ của Hợp đồng dịch vụ. Các văn bản này được công bố công khai, các bên đều có quyền tiếp cận và nghĩa vụ phải biết trước khi giao kết hợp đồng.
Trên cơ sở các quy định nêu trên và thực tế ký kết, thực hiện Hợp đồng dịch vụ, chúng tôi khẳng định:
- Hợp đồng dịch vụ được ký kết trên cơ sở tự nguyện, thống nhất ý chí của các bên với những người hiểu biết đầy đủ về các quy định pháp luật liên quan cũng như về toàn bộ các điều khoản trong Hợp đồng. Nguyên đơn tham gia giao kết hợp đồng với đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự và vì vậy được coi là có nhận thức và hiểu biết về pháp luật.
- Việc chuyển đổi đất dịch vụ thương mại đất sang đất ở không hình thành đơn vị ở (đối tượng hợp đồng) là có căn cứ hợp pháp và có thể thực hiện theo các quy định đã được dẫn chiếu nêu trên. Trong Hợp đồng dịch vụ, các bên cũng đã thỏa thuận thống nhất về việc xử lý trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chấp thuận việc chuyển đổi ô đất Biệt thự sang đất ở không hình thành đơn vị ở (khoản 3.1 và khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng dịch vụ).
- Việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất thương mại dịch vụ sang “đất ở không hình thành đơn vị ở” theo Hợp đồng dịch vụ có nghĩa là chuyển đổi đất thương mại dịch vụ (đất du lịch) sang đất ở theo định hướng quy hoạch chuyển đổi một phần đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch nhưng không hình thành đơn vị ở lô đất được chuyển đổi – cách hiểu và nội dung này là có cơ sở và phù hợp với nội dung của Quyết định số 868/QĐ-TTg ngày 17/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 của UBND tỉnh K như được trích dẫn trên đây và được tham chiếu trong Hợp đồng dịch vụ. Theo ghi nhận tại Điều 7.3 của Hợp đồng dịch vụ, nguyên đơn đã tìm hiểu và xem xét kỹ về vấn đề này và chấp nhận ký kết Hợp đồng này mà không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện hay yêu cầu nào đối với Công ty.
Như vậy, Hợp đồng dịch vụ được giao kết tự nguyện, hợp pháp, không thuộc các trường hợp vô hiệu theo quy định tại Điều 407 và Điều 408 Bộ luật Dân sự. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên bố Hợp đồng dịch vụ vô hiệu là không có căn cứ.
2.4. Về yêu cầu “Buộc Công ty Cổ phần P trả lại số tiền ông Lê Thanh L đã nộp theo hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở là 582.009.318 đồng” và “Buộc Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong công việc dẫn đến hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không thành đơn vị bị vô hiệu số tiền là 593.649.504 đồng (tạm tính đến tháng 7/2024”).
Như đã phân tích tại mục 2.3 nêu trên, Công ty khẳng định Hợp đồng dịch vụ ký kết giữa Công ty và ông Lê Thanh L là hoàn toàn hợp pháp, có hiệu lực toàn bộ và đầy đủ. Thực tế thực hiện hợp đồng, Công ty luôn thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình, không có bất kỳ hành vi nào vi phạm Hợp đồng nào. Hơn nữa, như đã phân tích ở mục 2.3 ở trên, yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên bố Hợp đồng dịch vụ vô hiệu là không có cơ sở pháp lý. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc hoàn trả khoản tiền đã nộp theo Hợp đồng dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại do Hợp đồng dịch vụ vô hiệu là không có cơ sở.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, Công ty Cổ phần P khẳng định toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L là không có cơ sở, không phù hợp với quy định pháp luật, quy định của Hợp đồng mua bán biệt thự, Hợp đồng dịch vụ và thực hiện các Hợp đồng; đề nghị Tòa án xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nêu trên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Hương G trình bày: Đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực – An Giang:
Căn cứ vào Điều 26; 35; 39; 147; 157; 158; khoản 2 Điều 244; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9; 17; 54, 55 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Điều 117; 122; 385; 513; 514; 515; 516; 517; 518 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc: Yêu cầu công nhận Hợp đồng mua bán biệt thự số SV 09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN 27/11/2018 và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với Căn biệt thự ô V18 lô SV09 thuộc dự án Khu T; tại tổ E, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P.
3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P phải hoàn trả cho ông Lê Thanh L số tiền đã nộp theo Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 là 6.318.733.702 đồng (Sáu tỷ, ba trăm mười tám triệu, bảy trăm ba mươi ba nghìn, bảy trăm lẻ hai đồng).
4. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu số tiền là 8.151.166.476 đồng (Tám tỷ, một trăm năm mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, bốn trăm bảy mươi sáu đồng).
5. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P.
6. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P trả lại cho ông L số tiền đã nộp theo hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị là 582.009.318 đồng (Năm trăm tám mươi hai triệu, không trăm lẻ chín nghìn, ba trăm mười tám đồng).
7. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị bị vô hiệu số tiền là 750.792.020 đồng (B trăm năm mươi triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, không trăm hai mươi đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 01 năm 2026 nguyên đơn ông Phan Thanh L1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của ông L1 là không chính xác, không khách quan, không đúng pháp luật, không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Bản án sơ thẩm sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, không áp dụng Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản để xem xét tính hợp pháp của 02 hợp đồng tranh chấp là hoàn toàn trái pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại bản án sơ thẩm và đề nghị xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông Phan Thanh L1.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay,
Tất cả nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt có gửi văn bản trình bày ý kiến: Bị đơn không đồng ý với các ý kiến nguyên đơn đã trình bày trong đơn kháng cáo, cụ thể
- Đối với ý kiến nguyên đơn cho rằng hợp đồng mua bán biệt thự đã bị vô hiệu: Bị đơn không đồng ý. Bởi vì, hợp đồng mua bán biệt thự không phải là một hợp đồng cho thuê/cho thuê lại đất và không xác lập quan hệ cho thuê/ cho thuê lại đất giữa Công ty và Nguyên đơn. Hợp đồng mua bán biệt thự đã thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117, Bộ luật Dân sự 2015, và không thuộc bất kỳ trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nào theo quy định. Khoản 3, Điều 19, Nghị định 43/2014/NĐ-CP hoàn toàn không liên quan đến Hợp đồng mua bán biệt thự và Hợp đồng mua bán biệt thự là một giao dịch dân sự đã được xác lập hợp pháp và có hiệu lực pháp lý đầy đủ.
- Đối với ý kiến bị đơn là người thuê đất hằng năm nên không có quyền chuyển nhượng hay cho thuê lại quyền sử dụng đất: Công ty được Nhà nước cho thuê đất với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Hình thức thuê đất này cũng đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 604897 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho Công ty vào ngày 15/12/2020. Như vậy, Công ty có quyền chuyển nhượng Biệt thự tại ô số V12B, Lô số SV09 và quyền sử dụng đất gắn với biệt thự theo quy định tại Hợp đồng mua bán biệt thự.
- Đối với ý kiến hợp đồng mua bán và hợp đồng dịch vụ đều bị vô hiệu ngày từ thời điểm ký kết:
+ Công ty thuê đất theo hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và được miễn tiền thuê đất trong thời gian xây dựng cơ bản và miễn tiền thuê đất theo ưu đãi đầu tư từ ngày 15/12/2017 đến ngày 23/12/2034 theo Quyết định số 1675/QĐ-CT ngày 21/12/2017 của Cục Thuế tỉnh K. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng mua bán biệt thự, Công ty vẫn có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, bao gồm cả quyền chuyển nhượng biệt thự và quyền sử dụng đất gắn với biệt thự.
+ Hợp đồng dịch vụ đã được Công ty và nguyên đơn ký kết trên cơ sở tự nguyện thống nhất ý chí dựa trên các cơ sở pháp lý rõ ràng, và thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, Hợp đồng dịch vụ có hiệu lực pháp lý đầy đủ ràng buộc Công ty và Nguyên đơn.
+ Các thỏa thuận liên quan đến việc thực hiện việc xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo Hợp đồng dịch vụ và bất kỳ nội dung nào liên quan đến đất ở không hình thành đơn vị ở không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của Hợp đồng mua bán giữa Công ty và nguyên đơn.
- Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng hợp đồng dịch vụ bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được:
+ Cho đến ngày của phiên tòa, cũng chưa có quyết định chính thức nào của cơ quan có thẩm quyền quyết định rằng: lô đất biệt thự không được phép chuyển sang đất ở không hình thành đơn vị ở.
+ Luật Đất đai cũng không có quy định nào cấm việc chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở và hình thức quản lý, sử dụng, khai thác thửa đất và biệt thự gắn với thửa đất là không hình thành đơn vị ở; hợp đồng dịch vụ cũng không quy định thời hạn cụ thể mà bị đơn phải thực hiện và hoàn thành thủ tục chuyển đổi này (mà chỉ có quy định hoàn trả lại phí dịch vụ nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản không chấp thuận việc chuyển ô đất ở Biệt thự sang đất ở không hình thành đơn vị ở). Do đó, thỏa thuận tại hợp đồng dịch vụ không vi phạm điều cấm nào mà Luật Đất đai quy định.
Từ những phân tích trên, luật sư đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu kháng cáo và các lập luận tại đơn kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực – An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Thanh L kháng cáo trong hạn luật định và có nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về sự có mặt của đương sự: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt; riêng những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Giai đoạn sơ thẩm, ông Lê Thanh L rút lại yêu cầu khởi kiện về việc công nhận Hợp đồng mua bán biệt thự số SV 09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với Căn biệt thự ô V18 lô SV09 thuộc dự án Khu T; tại Tổ E, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự, không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là phù hợp và các đương sự không có kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Nguyên đơn và bị đơn xác định:
Ngày 27/11/2018 ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P ký kết Hợp đồng mua bán biệt thự số SV 09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN 27/11/2018
Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN để mua bán Biệt thự được xây thô và hoàn thiện mặt ngoài với chi tiết và đặc điểm chính được mô tả tại Phụ lục 2 của Hợp đồng này tại Dự án do bên bán làm chủ đầu tư; Giá bán Biệt thự được quy định chi tiết tại Phụ lục 3 của Hợp đồng; Bên bán có thể bàn giao Biệt thự cho bên mua chậm nhất vào ngày 15/01/2019.
Theo Phụ lục 2 của Hợp đồng thì loại công trình: Biệt thự, địa chỉ: Ô số V thuộc lô S Khu T and Resort 2 tại Khu P, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang, tổng diện tích sàn xây dựng biệt thự là 418m2; Ô đất xây dựng biệt thự là ô đất số V18 thuộc Lô đất số SV09, tổng diện tích ô đất 198m2, mục đích sử dụng đất: Thương mại dịch vụ, thời hạn sử dụng: đến ngày 25/3/2065.
Theo phụ lục 3 của Hợp đồng thì giá bán biệt thự là 6.651.298.634 đồng, bao gồm: tiền đất có hạ tầng kỹ thuật bao gồm tiền thuê đất của ô đất biệt thự (thời hạn đến ngày 25/3/2065) và chi phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật khung (đã bao gồm thuế VAT) là 3.054.051.990 đồng; Tiền xây dựng là 3.597.146.644 đồng.
Ngày 27/11/2018 ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P ký kết Hợp đồng dịch vụ số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở đối với ô đất số V18 thuộc lô số SV09 Khu tổ hợp du lịch Sonasea Villas and Resort 2 tại Khu P, xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang, tổng diện tích 198m2; Chi phí để thực hiện việc xin chuyển đổi ô đất sang đất ở không hình thành đơn vị ở là 582.009.318 đồng.
Ngày 21/4/2020 ông Lê Thanh L và Công ty Cổ phần P1 bàn giao biệt thự cho ông L quản lý, sử dụng.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, đối chiếu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018:
Tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán biệt thự Công ty Cổ phần P đã đáp ứng đủ các điều kiện để đưa các căn biệt thự vào kinh doanh theo Điều 9; 55 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 như: Quyết định số 218/QĐ-BQLKKTPQ ngày 23/12/2016, Quyết định số 56/QĐ-BQLKKTPQ ngày 28/02/2017, Quyết định số 164/QĐ-BQLKKTPQ ngày 05/7/2017 của Ban Q về việc cho Công ty Cổ phần P thuê đất để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, đầu tư xây dựng Dự án; Đến ngày 15/12/2020 thì thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy phép xây dựng số 22/GPXD ngày 26/10/2018; Biên bản ngày 10/10/2017 và biên bản ngày 30/10/2017 về việc nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình để đưa vào sử dụng.
Tại Hợp đồng mua bán biệt thự đều thể hiện là Hợp đồng mua bán biệt thự và Phụ lục 2 của Hợp đồng đều ghi mục đích sử dụng là đất thương mại dịch vụ, thời hạn sử dụng đến ngày 25/3/2065. Như vậy, việc ông L cho rằng Công ty Cổ phần P che giấu thông tin pháp lý của dự án, chưa đáp ứng các điều kiện mở bán biệt thự là không có căn cứ.
Về việc cấp Giấy chứng nhận đối với căn biệt thự: Ngày 15/12/2020 Công ty Cổ phần P đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 604891 đối với căn biệt thự V18-SV09. Tại Điều 7 của Hợp đồng không quy định về thời gian cấp Giấy chứng nhận cho bên mua biệt thự, việc cấp Giấy chứng nhận phụ thuộc vào cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Tại Thông báo số 312/TB-VP ngày 03/4/2020 của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh K về thông báo ý kiến kết luận của Thường trực UBND tỉnh K về việc “tạm dừng thực hiện chủ trương chuyển đổi đất du lịch sang đất ở nhưng không hình thành đơn vị ở theo Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 của UBND tỉnh K cho đến khi các khu vực đất du lịch chuyển đổi sang đất ở được xác định theo điều chỉnh cục bộ/Quy hoạch chung xây dựng (mới) đảo P được phê duyệt”. Tại văn bản số 1265/BQLKKTPQ-VP ngày 01/7/2025 của Ban Q (thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh K về việc có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc) xác định: “Việc chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận cho tổ chức, cá nhân khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện và giấy tờ theo quy định tại Điều 41, Nghị định số 101/2024/NĐ ngày 29/7/2024 của Chính phủ”. Như vậy việc bên mua hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận không thuộc lỗi của bên bán và cũng không có vi phạm điều khoản nào trong “Hợp đồng mua bán biệt thự” mà các bên đã ký kết.
. Đối với Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN ngày 27/112018:
Theo Điều 1 của Quy chế quản lý việc chuyển đổi đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch trên địa bàn đảo P được ban hành kèm theo Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 của UBND tỉnh K có nêu phạm vi điều chỉnh là “Quy chế này quy định về điều kiện, trình tự thủ tục thực hiện việc chuyển đổi một phần đất du lịch sang đất ở để xây dựng biệt thự du lịch; hình thức sử dụng, khai thác, quản lý các biệt thự du lịch sau khi chuyển đổi để đảm bảo không hình thành đơn vị ở tại các dự án phát triển du lịch trên địa bàn đảo P theo Quyết định số 868/QĐ-TTg ngày 17/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ”. Đến ngày 03/4/2020 Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh K mới có Thông báo số 312/TB-VP về thông báo ý kiến kết luận của Thường trực UBND tỉnh K về việc “tạm dừng thực hiện chủ trương chuyển đổi đất du lịch sang đất ở nhưng không hình thành đơn vị ở theo Quy chế được ban hành kèm theo Quyết định số 2503/QĐ-UBND ngày 26/10/2015 của UBND tỉnh K cho đến khi các khu vực đất du lịch chuyển đổi sang đất ở được xác định theo điều chỉnh cục bộ/Quy hoạch chung xây dựng (mới) đảo P được phê duyệt”. Như vậy vào thời điểm các bên ký kết Hợp đồng dịch vụ thì UBND tỉnh K đã có quy chế cho phép chuyển đổi đất du lịch sang đất ở nhưng không hình thành đơn vị ở. Tại văn bản số 1265/BQLKKTPQ-VP ngày 01/7/2025 của Ban Q (thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh K về việc có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc) xác định: “Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất của các biệt thự đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong Dự án khu tổ hợp du lịch Sonasea Villas anh R 2 phải phù hợp với chức năng sử dụng đất theo quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 đã được phê duyệt”. Như vậy đến nay chưa có văn bản, quyết định nào của cơ quan Nhà nước thẩm quyền không chấp nhận việc chuyển đổi ô đất Biệt thự sang đất ở không hình thành đơn vị ở.
Vì vậy, Hợp đồng dịch vụ chưa thực hiện được vì quy định của Nhà nước, việc thỏa thuận giữa các bên không có dấu hiệu lừa dối, không trái pháp luật nên không bị vô hiệu.
Ngoài ra, tại điểm d khoản 7.1 Điều 7 của Hợp đồng mua bán biệt thự có nêu rõ: “Nếu bên mua có nhu cầu và mong muốn bên bán thực hiện thủ tục xin chuyển đổi từ đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành đơn vị ở, với điều kiện được sự chấp thuận của bên bán và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…., thì hai bên sẽ ký kết một hợp đồng để ghi nhận…, bên mua phải thanh toán tiền…liên quan đến việc chuyển đổi…”.
Như vậy, hợp đồng dịch vụ được lập trên cơ sở nhu cầu, thỏa thuận giữa hai bên và phải tuân theo quy định pháp luật. Hiện nay, Công ty không chuyển nhượng, thế chấp hay cho thuê lại quyền sử dụng đất mà Công ty đứng tên giấy CNQSD đất đối với ô đất biệt thự này. Việc Công ty K1 thực hiện được “hợp đồng dịch vụ” xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất là do chủ trương bị tạm dừng thực hiện chứ không phải là bị cấm thực hiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở xem xét chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do ông Phan Văn L2 là người cao tuổi, có đơn yêu cầu nên thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Thanh L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực – An Giang.
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 244, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 17, Điều 54, Điều 55 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Điều 117, Điều 122, Điều 385, Điều 513, Điều 514, Điều 515, Điều 516, Điều 517, Điều 518 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc: Yêu cầu công nhận Hợp đồng mua bán biệt thự số SV 09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN 27/11/2018 và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với Căn biệt thự ô V18 lô SV09 thuộc dự án Khu T; tại tổ E, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P phải hoàn trả cho ông Lê Thanh L số tiền đã nộp theo Hợp đồng mua bán biệt thự số SV09-V18/2018/HĐMB/CEOĐN ngày 27/11/2018 là 6.318.733.702 đồng (Sáu tỷ ba trăm mười tám triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm lẻ hai đồng).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng mua bán biệt thự bị vô hiệu số tiền là 8.151.166.476 đồng (Tám tỷ một trăm năm mươi mốt triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm bảy mươi sáu đồng).
5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị số SV09-V18/2018/HĐDV/CEOĐN ngày 27/11/2018 giữa ông Lê Thanh L với Công ty Cổ phần P.
6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P trả lại cho ông L số tiền đã nộp theo hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị là 582.009.318 đồng (Năm trăm tám mươi hai triệu không trăm lẻ chín nghìn ba trăm mười tám đồng).
7. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh L về việc yêu cầu Công ty Cổ phần P bồi thường thiệt hại do có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng dịch vụ xin chuyển đổi đất thương mại dịch vụ sang đất ở không hình thành ở đơn vị bị vô hiệu số tiền là 750.792.020 đồng (B trăm năm mươi triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn không trăm hai mươi đồng).
8. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lê Thanh L phải chịu toàn bộ chi phí là 1.774.872 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi hai đồng), ông L đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.
9. Về án phí:
9.1. Dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Thanh L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.832.505 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm ba mươi hai nghìn năm trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009222 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực – An Giang).
- Công ty Cổ phần P không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
9.2. Dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thanh L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; - Phòng Thi hành án DS khu vực-An Giang; - Tòa án nhân dân khu vực-An Giang; - Phòng KTNV & THA; - Đương sự “Để thi hành”; - Văn phòng; Tòa Dân sự, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |