vanban.org

Bản án 368/2022/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Lê Thành D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Lê Thành D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2022. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen thu của bị cáo D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lua dao chiem doat tai san - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Lê Thành D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 368/2022/HS-ST
Ngày: 22-9-2022

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Thanh Giàu

2. Bà Nguyễn Đặng Thanh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Việt Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 340/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

Phan Lê Thành D; sinh ngày 05/6/1989; tại: Tỉnh Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú: tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; con ông Phan Văn H, sinh năm: 1960 (đã chết) và bà Lê Thị A, sinh năm: 1957; bị cáo là con duy nhất; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Huỳnh Thị L, sinh năm: 2002 (có mặt)

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chị L Thị Bích C, sinh năm: 1991 (có mặt)

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chị L Thị Ngọc A, sinh năm: 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lâm Thị Y, sinh năm: 1984 (vắng mặt)

Địa chỉtỉnh Trà Vinh.

- Chị Huỳnh Thị Th, sinh năm: 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022, Phan Lê Thành D nảy sinh ý định lên mạng xã hội Zalo, Facebook dùng tên giả kết bạn làm quen với các cô gái để chiếm đoạt tài sản, cụ thể từng lần D chiếm đoạt như sau:

Lần 1: Ngày 03/01/2022, Phan Lê Thành D lên mang xã hội Facebook kết bạn với chị Huỳnh Thị L, sinh năm 2002 và hẹn chị L uống cà phê ở quán HighLand tại khu dân cư Trung Sơn, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, D rủ chị L về phòng trọ của D tại phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức chơi, thì chị L đồng ý. Nhưng do chị L không đi xe nên D cùng chị L đi xem ôm grap về phòng trọ của chị L trên đường Dương Bá Trạc, Phường 1, Quận 8 lấy xe mô tô Honda Blade biển số 71C2- 264.29 của chị L để về phòng của D. D điều khiển xe chở chị L đi đến siêu thị Vinmack ở Đường 26, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, D dừng xe lại giả vờ nhờ chị L đi vào siêu thị mua hộ 02 lon bia để về phòng uống, chị L xuống xe đi vào siêu thị thì D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade màu đen biển số 71C2-264.29 của chị L tẩu thoát. Sau đó, D đăng lên mạng xã hội Facebook bán xe mô tô hiệu Honda Blade màu đen biển số 71C2-264.29 cho người đàn ông không rõ lai lịch với giá 3.000.000 đồng tại đường Phan Đăng Lưu rồi tiêu xài cá nhân hết. Chị L sau khi mua 02 lon bia xong đi ra thì không thấy D và gọi điện cho D thì không được nên đã đến Công an thành phố Thủ Đức trình báo.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Blade màu đen biển số 71C2-264.29 có trị giá là 10.300.000 đồng.

Lần 2: Vào ngày 06/01/2022, D lên mạng xã hội Facebook lấy tên “Nguyễn Như Thuật” kết bạn với chị L Thị Bích C, sinh 1991 và hẹn chị Bích Chi uống cà phê ở quán Trung Nguyên trên đường Phạm Văn Đồng, quận Gò Vấp. Sau đó, D bắt xe đến điểm hẹn gặp chị Chi, D nói tên “Nam” và rủ chị Cđi ăn thì chị Cđồng ý. Chị Cđưa xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1- 06459 để D điều khiển chở chị Cngồi sau đi ra đường Phạm Văn Đồng hướng về siêu thị Gigamall để mua trà sữa. Khi đi đến trước nhà số 519/1 Kha Vạn Cân, Khu phố 8, phường Hiệp Bình Chánh, D giả vờ đánh rơi dép rồi dùng xe nhờ chị Cđi xuống lấy hộ, Chi xuống xe đi nhặt dép thì D điều khiển xe của chị Ctẩu thoát. Sau đó, D đăng lên mạng xã hội Facebook bán xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1- 06459 cho người đàn ông không rõ lại lịch với giá 3.500.000 đồng tại đường Phạm Văn Đồng, quận Bình Thạnh rồitiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức xác định: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-06459 có trị giá là 15.500.000 đồng.

Lần 3: Ngày 09/01/2021, thông qua mạng xã hội Facebook, D có quen biết với chị L Thị Ngọc A (sinh năm 2000), D tự xưng tên Nam, có tên Facbook là “Seven”, sau đó hai người hẹn gặp nhau cùng uống cà phê để biết mặt, làm quen. Thấy chị Ánh có 01 xe mô tô hiệu Vario mới mua nên D nảy sinh ý định hẹn gặp Ánh đề tìm cách chiếm đoạt xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, D hẹn gặp chị Ánh tại Tòa nhà Vincom ở đường Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức. Ánh điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen, chưa có biển số (do chị Ánh mới mua) đến, Ánh đưa xe và chìa khóa cho D điều khiển chở Ánh đi ăn tại quán cơm “Minh 354”, địa chỉ: số 24, đường Man Thiện, khu phố 1, phường Tăng Nhơn Phú A. Sau khi ăn xong, D tiếp tục ngồi lên xe mô tô, D giả vờ nói chị Ánh đi qua bên kia đường mua nước uống, chị Ánh đồng ý và đi bộ qua đường, lúc này D điều khiển xe mô tô trên chạy đi, tưởng D đi có việc, chị Ánh đứng đợi khoảng 10 phút, sau đó liên lạc với D nhưng không được, D đã chặn và hủy kết bạn với chị Ánh. D điều khiển xe mô tô trên đến đường Lê Hồng Phong mua 01 biển số 84E1-017.64 của người ve chai gắn vào xe. Ngày 10/01/2022, D dùng tài khoản facebook tên “Lê Long Hồ” đăng bán chiếc xe mô tô đã chiếm đoạt được của chị Ánh với giá 28.000.000 đồng trong nhóm xe không giấy. Ngày 12/01/2022, có người nhắn tin cho D đồng ý mua và hẹn giao xe tại quán cà phê Trung Nguyên, địa chỉ: số 273B đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 25, quận Bình Thạnh. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen gắn biển số 84E1-017.64 đến điểm hẹn thì bị Công an thành phố Thủ Đức kiểm tra đưa về trụ sở làm việc. Chị Ánh do bận học và thi nên ngày 12/01/2022 mới đến Công an phường Tăng Nhơn Phú A trình báo vụ việc.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức xác định: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen của chị Anh có trị giá là 48.500.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

- 01 chìa khóa xe gắn máy màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen, số khung: MHIKF4120MK226932, số máy: KF41E2230828.

Ngày 02/6/2022, Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả xe trên cho chị Ánh (BL: 16).

- 01 mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-064.59 của chị C(không thu hồi được);

- 01 mô tô hiệu Honda Blade biển số 71C2-264.29 của chị L (không thu hồi được)

- 01 biển số xe 84E1-017.64. Qua xác minh đứng tên chủ sở hữu là chị Lâm Thị Yến, sinh năm 1984, HKTT: ấp Mai Hương, xã Vĩnh Kim, huyện cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh và loại xe Yamaha Nouvo. Chị Yến khai đầu năm 2022 chị bị đánh rơi biển số xe trên ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó chị về lại Công an huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đăng ký cấp lại, hiện xe trên chị đang sử dụng. Ngày 10/6/2022, Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả biển số 84E1-017.64 cho chị Yến.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen thu của D;

- 01 bóp màu vàng bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê Thị Bích C. Ngày 10/6/2022, Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả cho chi Chi.

- Bản photo: 01 căn cước công dân tên Võ Thị Minh Thái; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê Hoàng Nam để trong ví của D, kèm theo hồ sơ vụ án;

- 01 USB màu xanh, ghi lại hình ảnh của Phan Lê Thành D và chị L Thị Ngọc A vào ngày 09/01/2022 tại trước quán cơm “Minh 354” nơi xảy ra sự việc, kèm theo hồ sơ vụ án.

* Trách nhiệm dân sự:

- Chị L Thị Ngọc A đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen, số khung: MH1KF4120MK226932, số máy: KF41E2230828 nên không yêu cầu bồi thường gì.

- Chị L Thị Bích C yêu cầu D bồi thường giá trị xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-064.59 với số tiền 15.500.000 đồng.

- Chị Huỳnh Thị L yêu cầu D bồi thường đồng giá trị mô tô hiệu Honda Blade biển số 71C2-264.29 với số tiền 10.300.000 đồng.

Cáo trạng số 309/CT-VKSTPTĐ ngày 26/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phan Lê Thành D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51;điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Lê Thành D từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen thu của D; trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Thị Bích C số tiền 15.500.000 đồng và chị Huỳnh Thị L số tiền 10.300.000 đồng; chị L Thị Ngọc A đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

- Bị hại chị L Thị Bích C trình bày: Chị yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho chị giá trị của xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-064.59 theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá với số tiền 15.500.000 đồng.

- Bị hại chị Huỳnh Thị L trình bày: Chị yêu cầu bị cáo D phải bồi thường cho chị giá trị của xe mô tô hiệu Honda Blade biển số 71C2-264.29 theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá với số tiền 10.300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Phan Lê Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 13/01/2022; các Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và các Biên bản xác định địa điểm; các Biên bản nhận dạng của Công an thành phố Thủ Đức; Kết luận định giá tài sản số 23-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 24/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở pháp lý xác định:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 03/01/2022 cho đến ngày 09/01/2022, Phan Lê Thành D thông qua mạng xã hội Faceboook đã 03 lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại trên địa bàn thành phố Thủ Đức đem bán lấy tiền tiêu xài, tổng giá trị các tài sản chiếm đoạt là 74.300.000 đồng. Cụ thể đã thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Vario 150cc, số khung MH1KF4120MK226932, số máy: KF41E2230828 (chưa có biển số), giá trị 48.500.000 đồng của chị L Thị Ngọc A; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-064.59, giá trị 15.500.000 đồng của chị L Thị Bích C; 01 xe mô tô hiệu Honda Blade biển số 71C2-264.29, giá trị 10.300.000 đồng của chị Huỳnh Thị L. Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Lê Thành D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội D và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Phan Lê Thành D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất của vụ án: Bị cáo là người có trình độ (tốt nghiệp đại học), bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của bản thân, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp, dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác; chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội; 02 trong 03 tài sản bị chiếm đoạt của các bị hại không thu hồi được. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi trên của bị cáo Phan Lê Thành D là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo D phạm tội lần đầu, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn nhận tội khai báo đầy đủ và có thái độ ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Đối với 02 đối tượng (không rõ lai lịch) mua xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 81F1-064.59 và xe mô tô hiệu Honda Blade biển số 71C2-264.29 từ bị cáo D, Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục điều tra, có căn cứ sẽ xử lý sau.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vật chứng vụ án:

- 01 chìa khóa xe gắn máy màu đen và 01 xe mô tô hiệu Honda Vario 150cc, màu đen, số khung: MHIKF4120MK226932, số máy: KF41E2230828. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả xe trên cho chị Ánh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

- 01 mô tô Vision, biển số 81F1-064.59 của chị C(không thu hồi được) và 01 mô tô Blade biển số 71C2-264.29 của chị L (không thu hồi được). Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục truy tìm vật chứng, có căn cứ sẽ xử lý sau.

- 01 biển số xe 84E1-017.64. Qua xác minh đứng tên chủ sở hữu là chị Lâm Thị Yến, quá trình sử dụng bị rơi mất. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả biển số 84E1-017.64 cho chị Yến là phù hợp.

- 01 bóp màu vàng bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê Thị Bích C. Ngày 10/6/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định trả cho chị Clà có căn cứ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen. Đây là phương tiện bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Bản phô tô: 01 căn cước công dân tên Võ Thị Minh Thái; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê Hoàng Nam có trong ví của D, không liên quan đến vụ án nên lưu hồ sơ vụ án;

- 01 USB màu xanh, ghi lại hình ảnh ghi lại hình ảnh của Phan Lê Thành D thực hiện hành vi phạm tội, đây là tài liệu liên quan đến vụ án nên lưu hồ sơ vụ án.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 309/QĐ-VKSTPTĐ ngày 10/8/2022 của viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị L Thị Bích C yêu cầu D bồi thường giá trị xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 81F1-064.59 với số tiền 15.500.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản là có căn cứ nên buộc bị cáo phải bồi thường.

- Chị Huỳnh Thị L yêu cầu D bồi thường giá trị mô tô Honda Blade biển số 71C2-264.29 với số tiền 10.300.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản là có căn cứ nên buộc bị cáo phải bồi thường.

- Chị L Thị Ngọc A không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Phan Lê Thành D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: 25.800.000 đồng x 5% = 1.290.000 đồng bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Lê Thành D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Lê Thành D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2022.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen thu của bị cáo D.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 309/QĐ-VKSTPTĐ ngày 10/8/2022 của viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Buộc bị cáo Phan Lê Thành D phải bồi thường thiệt hại cho chị L Thị Bích C số tiền 15.500.000 đồng.

- Buộc bị cáo Phan Lê Thành D phải bồi thường thiệt hại cho chị Huỳnh Thị L số tiền 10.300.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hành Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền gốc chưa thi hành án.

5. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo Phan Lê Thành D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: 1.290.000 đồng bị cáo Phan Lê Thành D phải chịu, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

6. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ