vanban.org

Bản án 368/2019/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị Tường L được ly hôn anh Hoàng Anh H Về con: Giao con chung của vợ chồng là cháu Hoàng Anh P, sinh ngày 16/9/2018, cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu. Anh H được quyền qua lại chăm sóc giáo dục con chung, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:368/2019/HN&GĐ-ST
Ngày:28 /11/2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Hoàng Ngọc Năm

2. Bà Lê Thị Hà

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Binh – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện H: Không tham gia.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trịnh Thị Tường L- sinh năm 1993

Địa chỉ: SN 16, phường Đ thành phố T tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Hoàng Anh H- sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện H tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà: Có mặt chị L, vắng mặt anh H;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 18/9/2019, bản tự khai và đơn không yêu cầu tiến hành hòa giả ngày 09/10/201, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là chị Trịnh Thị Tường L đã trình bày: Chị và anh Hoàng Anh H có thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được UBND phường Đ, thành phố T cấp giấy CNĐKKH vào ngày 04/1/2019 nhưng hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho vợ chồng từ ngày 01/2/2018. Sau khi cưới vợ chồng đã có bầu luôn, và vợ chồng cũng phát sinh mâu thuẫn từ đó, anh Huy cho rằng sinh con là không hợp tuổi, nên vợ chồng lục đục, tôi đã từng không muốn đăng ký kết hôn nhưng vì thương con nên sau ngày sinh con chúng tôi mới đi ĐKKH. Và chúng tôi dường như đã ly thân từ khi tôi có bầu. Tôi vẫn ở nhà bố mẹ chồng nhưng anh H rất ít khi về nhà, thường ở ngoài, sau khi sinh con tôi lên nhà bà ngoại ở cho đến nay còn anh H ở cùng gia đình mẹ đẻ. Nhưng cũng từ đó anh H chặn số điện thoại của tôi, chúng tôi đã không liên lạc từ 1 năm nay.

Đến khoảng tháng 02 năm 2019 tôi xét thấy cuộc hôn nhân này không còn tương lai, nên có nói chuyện với anh H về việc ly hôn, anh H nói cứ làm đi rồi anh sẽ ra Tòa án giải quyết.

Do vậy yêu cầu của tôi là xin được ly hôn với anh H.

Về con: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Anh P, sinh ngày 16/9/2018, từ bé cháu đã ở với tôi, nay ly hôn nguyện vọng của tôi xin được tiếp tục nuôi cháu, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản và công nợ chung: Không có gì chung nên không cầu giải quyết.

Sau khi Thụ lý vụ án, Tòa án đã ra giấy triệu tập nhưng anh H không có mặt. Tại bản khai ngày 01/11/2019, bà Hoàng Thị Q là mẹ đẻ của anh H xin được trình bày: Hoàng Anh H là con trai của bà, kết hôn với chị Trịnh Thị Tường L vào năm 2017. Hai bên sinh con xong thì mới làm thủ tục cấp giấy ĐKKH.

Hai bên yêu nhau một thời gian rất ngắn rồi vội vàng cưới nhau, cưới được một thời gian rất ngắn thì mâu thuẫn xảy ra rồi ly thân. Khi cưới chúng tôi cũng khuyên Huy là từ từ, hãy tìm hiểu kỹ, đến khi mâu thuẫn vợ chồng thì chúng tôi cũng khuyên Huy để bố mẹ từ từ bảo ban L. Mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn, không xô xát, chỉ là những thói quen sinh hoạt hàng ngày, cách sống… Nhưng ông bà tôi được biết H không yêu L, và không đồng ý với L nhiều chuyện, nếu L thay đổi, H có thể vẫn đi lại, nhưng L đã không thay đổi nên H bỏ việc làm ở Thanh Hóa để đi làm xa. Đi làm ở đâu chúng tôi không có địa chỉ cụ thể, chỉ liên lạc bằng điện thoại. Nay L có đơn ly hôn, mà H thì không có nhà, nên chúng tôi sẽ nhận các văn bản tố tụng của Tòa án giao và thông báo cho H được biết. Quan điểm của H là đồng ý ly hôn với L.

Về con: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Anh P, sinh ngày 16/8/2018, hiện nay Linh đang nuôi cháu.

Về tài sản: Theo tôi được biết vợ chồng L có tài sản gì chung.

Ngày 15/11/2019 Tòa án đã mở phiên tòa nhưng anh H vắng mặt; Tại phiên tòa hôm nay anh H tiếp tục vắng mặt; Các văn bản tố tụng đã được tống đạt cho anh H thông qua gia đình, anh H đã biết rõ nội dung làm việc của Tòa án nhưng không có mặt.

Chị Trịnh Thị Tường L vẫn giữ nguyên quan điểm xĩn được ly hôn và nuôi con;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài lỉệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Tường L làm đơn xin ly hôn anh Hoàng Anh H, là quan hệ pháp luật Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự “Tranh chấp về ly hôn’’, thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trịnh Thị Tường L có đơn không yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp “Những vụ án không tiến hành hòa giải được’’ theo khoản 4 Điều 207 của BLTTDS; Do vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định chung.

Tại phiên tòa hôm nay và phiên tòa ngày 15/11/2019 anh H được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Anh H.

Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị Trịnh Thị Tường L và anh Hoàng Anh H có giấy CNKH, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ bất đồng trong tính cách, trong quan điểm sống hàng ngày nên vợ chồng vội vàng ly thân, nên tình cảm trong hôn nhân không có cơ hội cải thiện. Các bên đã xác nhận mâu thuẫn là trầm trọng, tình cảm không còn, nên xử để cho chị Trịnh Thị Tường L được ly hôn anh Hoàng Anh H là phù hợp.

Về con: Vợ chồng có một con chung là cháu Hoàng Anh P, sinh ngày 16/9/2018, hiện chị L đang nuôi con, do cháu còn nhỏ mà anh H không có mặt nên giao cháu cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu.

Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí: Chị Trịnh Thị Tường L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 51, 56, 57 , 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị Tường L được ly hôn anh Hoàng Anh H

- Về con: Giao con chung của vợ chồng là cháu Hoàng Anh P, sinh ngày 16/9/2018, cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu. Anh H được quyền qua lại chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở. Nhưng anh H cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của chị L.

- Về án phí: Chị Trịnh Thị Tường L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo biên lai thu số AA/2018/0005846 ngày 04/10/2019. Chị đã thi hành xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì ng-ười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Chị Trịnh Thị Tường L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Hoàng Anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân Tỉnh

Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà

- Viện kiểm sát HH

ĐÃ KÝ

- Thi hành án HH

- UBND xã

- Lưu hồ sơ

Lê Thị Phƣơng Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Thƣ

Trịnh Thị Loan

Lê Thị Phƣơng Thanh

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân Tỉnh

Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà

- Viện kiểm sát HH

- Thi hành án HH

- UBND xã

- Lưu hồ sơ

Lê Thị Phƣơng Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Thƣ

Trịnh Thị Loan

Lê Thị Phƣơng Thanh

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân Tỉnh

Thẩm phán - Chủ toạ phiên Toà

- Viện kiểm sát HH

- Thi hành án HH

- UBND xã

- Lưu hồ sơ

Lê Thị Phƣơng Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Thư

Lê Thanh Bình

Lê Thị Phương Thanh

Cỡ chữ