vanban.org

Bản án 367/2025/DS-PT — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 19/05/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

§iÒu 623, §iÒu 649, §iÒu 650, §iÒu 651, §iÒu 658và §iÒu 660 Bé luËt d©n sù năm 2015.

Kho¶n 1, Kho¶n 3 §iÒu 100; §iÒu 203 LuËt ®Êt ®ai. Kho¶n 5 §iÒu 26, ĐiÒu 203, §iÒu 220, §iÒu 271, §iÒu 272 và §iÒu 273 Bé luËt tè tông d©n sù năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp chia thừa kế"
  • Tòa quyết gì? §iÒu 623, §iÒu 649, §iÒu 650, §iÒu 651, §iÒu 658và §iÒu 660 Bé luËt d©n sù năm 2015.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 Về giao dịch dân sự về nhà…; Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------
Bản án số: 367/2025/DS - PT
Ngày: 19/5/2025
V/v: Tranh chấp chia thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Viết Văn

Bà Trần Thị Diệp Linh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan- Kiểm sát viên.

Ngày 19/5/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 3 năm 2022 về việc "Tranh chấp chia thừa kế."

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

/2022/QĐ-PT ngày tháng năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Gái (Khuyên), sinh năm 1964.

*

HKTT: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Chỗ ở: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

* Bị đơn: Ông Trịnh Văn Viên - Sinh n¨m 1945.

HKTT: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Chỗ ở: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Trịnh Thị Điền, sinh năm 1941 (chị bà Gái)

2/ Bà Trịnh Thị Hồng, sinh năm 1955 (chị bà Gái)

3/ Bà Trịnh Thị Hải, sinh năm 1958 (chị bà Gái)

Đều có HKTT: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, TP.Hà Nội

Đều có chỗ ở: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, TP.Hà Nội

4/ Bà Trịnh Thị Bắc, sinh năm 1959 (chị bà Gái)

HKTT: thôn Phù Trì, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Chỗ ở: thôn Phù Trì, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

5/ Bà Trịnh Thị Sửu, sinh năm 1962 (chị bà Gái)

6/ Bà Hoàng Thị Nhu, sinh năm 1943 (vợ ông Viên)

7/ Anh Trịnh Đình Phi, sinh năm 1974 (con ông Viên)

8/ Anh Trịnh Văn Toản, sinh năm 1977 (con ông Viên)

9/ Anh Trịnh Đình Ngũ, sinh năm 1979 (con ông Viên)

10/ Anh Trịnh Đình Thảo, sinh năm 1984 (con ông Viên)

11/ Anh Trịnh Văn Hiền, sinh năm 1987 (con ông Viên)

12/ Chị Nguyễn Kim Ngân, sinh năm 1990 (con bà Gái)

13/ Anh Nguyễn Minh Khánh, sinh năm 1994 (con bà Gái)

14/ Chị Hà Thị Kim Yến, sinh năm 1994 (con dâu bà Gái)

15/ Chị Lê Thị Thuận, sinh năm 1976 (vợ anh Phi)

16/ Cháu Trịnh Xuân Lễ, sinh năm 2000 (con anh Phi)

17/ Cháu Trịnh Thị Thanh Bình, sinh năm 2004 (con anh Phi)

18/ Cháu Trịnh Thùy Dương, sinh năm 2013 (con anh Phi)

19/ Chị Nguyễn Thị Thúy Hường, sinh năm 1984 (vợ anh Toản)

20/ Cháu Trịnh Xuân Tùng, sinh năm 2009 (con anh Toản)

21/ Cháu Trịnh Thị Thùy Hương, sinh năm 2011 (con anh Toản)

22/ Cháu Trịnh Xuân Thành, sinh năm 2015 (con anh Toản)

Người đại diện theo pháp luật của cháu Bình, cháu Dương là anh Phi, chị Thuận là bố, mẹ đẻ.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Tùng, cháu Hương, cháu Thành là anh Toản, chị Hường là bố, mẹ đẻ.

Đều có HKTT: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, TP.Hà Nội

Đều có chỗ ở: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, TP.Hà Nội

Có mặt: Bà Gái, bà Điền, bà Hồng, bà Hải, bà Sửu.

Vắng mặt: Ông Viên, bà Bắc, bà Nhu, anh Phi, anh Toản, anh Ngũ, anh Thảo, anh Hiền, chị Ngân, anh Khánh, chị Yến, chị Thuận, cháu Lễ, cháu Thanh, cháu Dương. Chị Hường, cháu Tùng, cháu Hương, cháu Thành.

Người kháng cáo: Ông Trịnh Văn Viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ghi ngày 08/3/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) trình bày:

* Về quan hệ huyết thống: Bố bà Gái là cụ Trịnh Văn Giã, sinh năm 1923, chết ngày 10/02/2001; Mẹ bà Gái là cụ Chu Thị lanh, sinh n¨m 1920, chết ngày 12/02/1992. Bố mẹ bà Gái có 7 người con, gồm: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu và Trịnh Thị Gái (Khuyên). Ngoài ra bố mẹ bà Gái không có con nào khác.

Sau khi các con trưởng thành xây dựng gia đình riêng; Bố bà Gái ăn ở cùng vợ chồng ông Viên và trực tiếp ở trên thửa đất số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2; khi cụ Giã chết, ông Viên đứng ra lo, chi phí là tiền của cụ Giã để lại và tiền của anh chị em có đóng góp. Mẹ bà Gái ăn ở cùng bà Gái tại thửa đất số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2; trước khi cụ Lanh chết vài tiếng đồng hồ thì đưa vào nhà ông Viên, việc tổ chức tang lễ ông Viên đứng ra lo, chi phí là tiền của cụ Lanh để lại và anh chị em có đóng góp.

* Về tài sản: Khi bố mẹ bà Gái là cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh còn sống; bố mẹ bà Gái có 4 thửa đất, gồm:

- Thửa đất ở số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2 (theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là của bố mẹ bà Gái được chính quyền chia cho bố mẹ bà Gái; chia cho năm nào bà Gái không rõ; trên đất có nhà 3 gian trát vách, lợp dạ do bố mẹ bà Gái làm; Năm 1995, do nhà xuống cấp bà Gái phá, xây lại nhà 3 gian, xây gạch lợp ngói để mẹ con bà Gái ở; Năm 2019, bà Gái phá 3 gian nhà xây gạch lợp ngói để xây nhà 2 tầng, một tum như hiện nay. Hiện nay bà Gái làm nhà ở và quản lý, sử dụng một phần thửa đất; anh Toản con ông Viên ở và quản lý sử dụng một phần thửa đất. (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

- Thửa đất ở số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2m2 (theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là của ông bà ngoại để lại cho bố mẹ bà Gái; sinh thời bố mẹ bà Gái ăn ở cùng các con tại thửa đất số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2 (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); trên đất có nhà 5 gian xây gạch lợp ngói và sân gạch làm khoảng năm 1960 – 1961, do bố mẹ bà Gái cùng các con làm; nhà và sân gạch hiện nay anh Phi là con ông Viên quản lý, sử dụng; trên đất còn có các công trình và các tài sản khác là của gia đình ông Viên. (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

- Thửa đất ao số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2 (theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là của ông bà ngoại bà Gái để lại cho bố mẹ bà Gái. Hiện nay ông Viên đã san lấp ao trồng bưởi và quản lý, sử dụng (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

- Thửa đất ao số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2 (theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là của ông bà ngoại bà Gái để lại cho bố mẹ bà Gái. Hiện nay ông Viên đã san lấp ao trồng bưởi và quản lý, sử dụng (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Trước khi bố mẹ bà Gái chết, bố mẹ bà Gái có nói cho bà Gái thửa đất số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2 và thửa đất ao số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2. Vì khi đó bà Gái không có chồng và bà Gái vẫn ăn ở trên thửa đất cho đến nay. Sau khi bố bà Gái chết, ông Trịnh Văn Viên đã chiếm giữ thửa đất ở số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2; chiếm thửa đất ao số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2 (thửa đất có diện tích khoảng 2/5 là ao, còn 3/5 là đất bờ ao trồng tre, gò đất cao và đất cấy rau muống; Ao sâu hình lòng chảo, chỗ sâu nhất khoảng 2m) và chiếm thửa đất ao số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2; Toàn bộ là đất ao; Ao sâu hình lòng chảo; chỗ sâu nhất khoảng 1,5m, trước đây trồng sen; Sau này ông Viên đổ đất lấp hai thửa đất này. Ngoài ra, ông Viên cùng các con ra chiếm giữ một phần thửa đất số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2 để xây nhà; khi bà Gái xây nhà trên thửa đất này thì ông Viên ngăn cản không cho bà Gái xây và chửi bới đuổi bà Gái. Ngoài các thửa đất trên bố, mẹ bà Gái không có tài sản nào khác để lại; Bố, mẹ bà Gái chết không để lại di chúc về tài sản.

Do anh, chị em không thống nhất hòa giải được với nhau; bà Gái đã có đơn đề nghị UBND xã Thanh Lâm giải quyết; UBND xã Thanh Lâm tổ chức hòa giải nhưng không có kết quả. Nay bà Gái yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của bố mẹ bà Gái để lại là 04 thửa đất; không yêu cầu chia nhà 5 gian và sân gạch mà để lại cho gia đình ông Viên sở hữu, sử dụng. Bà Gái yêu cầu được hưởng trị giá 1/7 và yêu cầu hưởng bằng đất để bà Gái cùng các con có chỗ ở; Bà Gái và ông Viên có công quản lý, duy trì và tôn tạo đất; nên bà Gái yêu cầu được tính công sức cho bà Gái và ông Viên. Ông Viên có công san lấp ao nên bà Gái đề nghị tính công sức tôn tạo thửa đất cho ông Viên.

Về án phí giải quyết theo pháp luật; Ngoài ra, bà Gái không còn ý kiến gì thêm.

*Tại biên bản lấy lời khai ghi ngày 26/3/2021 và c¸c lêi khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như t¹i phiªn tßa sơ thẩm, bị đơn ông Trịnh Văn Viên trình bày:

* Về quan hệ huyết thống: Bố ông Viên là cụ Trịnh Văn Giã, sinh năm 1923, chết ngày 10/02/2001; Mẹ ông Viên là cụ Chu Thị Lanh, sinh n¨m 1920, chết ngày 12/02/1992. Bố mẹ ông Viên có 7 người con, gồm: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Gái (Khuyên). Ngoài ra bố mẹ ông Viên không có con nào khác.

* Về tài sản: Nguồn gốc 04 thửa đất bà Gái khởi kiện ông Viên, cụ thể như sau:

1/ Đối với thửa đất ở số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Diện tích theo bản đồ đo đạc năm 1987); Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông Viên được chia 1954 (khi cải cách ruộng đât)

2/ Đối với thửa đất ở số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Diện tích theo bản đồ đo đạc năm 1987); Nguồn gốc thửa đất là của ông, bà ngoại ông Viên; sau này ông bà ngoại ông Viên đổi cho bố mẹ ông Viên; ông bà ngoại ông Viên đến ở thửa đất diện tích 262m2; bố mẹ ông Viên đến ở thửa đất diện tích 422m2 (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Trịnh Văn Viên).

3/ Đối với thửa đất ao số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Diện tích theo bản đồ đo đạc năm 1987); Nguồn gốc thửa đất là của ông, bà ngoại ông Viên; trong gia phả có ghi giao cho bố ông Viên quản lý, trông nom thu hoa lợi nuôi ông bà ngoại và lo mai táng ông, bà ngoại ông Viên sau này.

4/ Đối với thửa đất ao số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Diện tích theo bản đồ đo đạc năm 1987); Nguồn gốc thửa đất là của ông, bà ngoại bán cho ông Viên khoảng 60 năm nay; ông Viên đã giao cho con là anh Trịnh Đình Phi và Trịnh Văn Toản mỗi người sử dụng 1/2 (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Toàn bộ việc đổi đất và mua bán đất không có giấy tờ gì; nay bà Gái khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của bố mẹ để lại là 04 thửa đất trên. Quan điểm của ông Viên là không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà Gái, vì:

1. Thửa đất ở số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2; Địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Khi mẹ ông Viên còn sống đã giao cho cháu Trịnh Văn Toản, mẹ ông đã chuyển hộ khẩu về cùng cháu Toản; Hiện nay cháu Toản và bà Gái đều làm nhà và mỗi người ở 1/2 nên không phải chia.

2. Thửa đất ở số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2; Địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Viên). Trên đất có nhà thờ 5 gian, làm từ năm 1960, để làm nơi thờ cúng nên không chia.

3. Thửa đất ao số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2; Địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); là đất hương hỏa ông Viên quản lý, trông nom thu hoa lợi để thờ cúng nên cũng không được chia.

4. Thửa đất ao số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2; Địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là của ông, bà ngoại bán cho ông Viên; ông Viên đã giao cho con là Trịnh Đình Phi và Trịnh Văn Toản mỗi người sử dụng 1/2 (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh Trịnh Đình Phi và Trịnh Văn Toản); thửa đất là của ông Viên nên ông Viên không phải chia thừa kế.

Ngoài các thửa đất trên, bố mẹ ông Viên có 01 nhà 5 gian trên thửa đất có diện tích 442m2, là nơi thờ cúng; Ngoài ra, bố mẹ ông Viên không có tài sản nào khác để lại. Ông Viên đề nghị Tòa án tính công sức quản lý, duy trì và tôn tạo thửa đất theo qui định của pháp luật. Về án phí giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra, ông Viên không còn ý kiến gì thêm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/3/2021 và c¸c lêi khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như t¹i phiªn tßa sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu trình bày: Nhất trí như ý kiến, quan điểm của bà Gái. Quan điểm của bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu là: Nhất trí với yêu cầu của bà Gái về chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của bố mẹ sau khi chết để lại là 04 thửa đất; không yêu cầu chia nhà 5 gian và sân gạch; Phần bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu được hưởng, bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu yêu cầu hưởng bằng hiện vật là đất. Bà Gái và ông Viên có công quản lý, duy trì và tôn tạo đất; nên tính công sức cho bà Gái và ông Viên; Ông Viên có công tôn tạo ao đề nghị Tòa án tính công sức cho ông Viên theo qui định của pháp luật; Ngoài ra, bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu không còn ý kiến gì thêm. Về án phí giải quyết theo pháp luật

2/ Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 bà Trịnh Thị Bắc trình bày:

* Về quan hệ gia đình: Bố bà Bắc là cụ Trịnh Văn Giã, sinh năm 1923, chết ngày 10/02/2001; Mẹ bà Bắc là cụ Chu Thị Lanh, chết ngày 12/02/1992. Bố mẹ bà Bắc có 7 người con, gồm: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu và Trịnh Thị Gái (Khuyên). Ngoài ra bố mẹ bà Bắc không có con nào khác.

* Về tài sản: Khi bố mẹ bà Bắc còn sống; bố mẹ bà Bắc có các tài sản sau: 01 thửa đất có ngôi nhà cổ gia đình ông Viên quản lý sử dụng; 02 thửa đất ao, hiện nay ông Viên đã san lấp trồng bưởi và 01 thửa đất hiện nay bà Gái quản lý sử dụng. Cụ thể số thửa, tờ bản đồ diện tích bà Bắc không rõ. Nay bà Gái yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết chia thừa kế đối với tài sản của bố mẹ bà Bắc để lại; bà Bắc đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật; nếu được chia thừa kế, phần của bà Bắc được hưởng, bà Bắc xin nhận; nếu được hưởng bằng đất, bà Bắc xin nhận bằng đất, nếu ai lấy đất thì trả bà Bắc bằng tiền.

3/ Tại biên bản tự khai ngày 15/7/2021, anh Trịnh Đình Ngũ trình bầy:

* Về quan hệ gia đình: Anh Ngũ là con ông Trịnh Văn Viên.

* Về tài sản: Nguồn gốc tài sản tranh chấp chia thừa kế, giữa: Bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) với ông Trịnh Văn Viên thế nào, anh Ngũ không rõ cụ thể; Mọi ý kiến, quan điểm của ông Viên như thế nào thì ý kiến quan điểm của anh Ngũ như vậy; anh Ngũ không có tài sản gì trên đất tranh chấp. Anh Ngũ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra, anh Ngũ không còn ý kiến gì thêm.

4/ Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/7/2021, anh Trịnh Đình Thảo trình bầy:

* Về quan hệ gia đình: Anh Thảo là con ông Trịnh Văn Viên.

* Về tài sản: Nguồn gốc tài sản tranh chấp giữa: Bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) với ông Trịnh Văn Viên thế nào, anh Thảo không rõ cụ thể; Mọi ý kiến, quan điểm của ông Viên như thế nào thì ý kiến quan điểm của anh Thảo như vậy; anh Thảo không có tài sản gì trên đất tranh chấp. Anh Thảo đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải theo pháp luật. Ngoài ra, anh Thảo không còn ý kiến gì thêm.

5/ Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/7/2021, chị Nguyễn Kim Ngân, anh Nguyễn Minh Khánh, chị Hà Thị Kim Yến trình bầy:

* Về quan hệ gia đình: Chị Ngân, anh Khánh là con đẻ của bà Gái; chị Yến là con dâu bà Gái; hiện nay ăn ở cùng nhà với bà Gái.

* Về tài sản: Nguồn gốc tài sản tranh chấp chia thừa kế, giữa: Bà Trịnh Thị Gái với ông Trịnh Văn Viên như thế nào, chị Ngân, anh Khánh, chị Yến không rõ cụ thể. Đối với tài sản trên phần đất hiện nay bà Gái và chị Ngân, anh Khánh, chị Yến đang ở, gồm có: Nhà hai tầng, trên tầng hai lợp mái tôn lạnh; mái tôn trước nhà; công trình phụ; nhà tắm, nhà vệ sinh; sân gạch; tường gạch; cổng sắt là của bà Gái làm và chị Ngân, anh Khánh, chị Yến có đóng góp xây dựng lên mà có.

Nay bà Gái yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của bố mẹ bà Gái để lại.Quan điểm của chị Ngân, anh Khánh, chị Yến: Các tài sản chung của bà Gái và chị Ngân, anh Khánh, chị Yến gia đình tự giải quyết không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Mọi ý kiến, quan điểm của bà Gái như thế nào thì ý kiến quan điểm của chị Ngân, anh Khánh, chị Yến như vậy. Chị Ngân, anh Khánh, chị Yến đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật. Ngoài ra, chị Ngân, anh Khánh, chị Yến không còn ý kiến gì thêm.

6/ Bà Hoàng Thị Nhu, anh Trịnh Đình Phi, anh Trịnh Văn Toản, anh Trịnh Văn Hiền, chị Thuận, cháu Lễ, cháu Thanh, cháu Dương. Chị Hường, cháu Tùng, cháu Hương, cháu Thành: Là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại địa phương nơi cư trú, đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đến Tòa án làm việc và giao Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng không đến Tòa án làm việc, không cung cấp ý kiến cho Toà án. Tại phiên tòa hôm nay bà Hoàng Thị Nhu, anh Trịnh Đình Phi, anh Trịnh Văn Toản, anh Trịnh Văn Hiền, chị Thuận, cháu Lễ, cháu Thanh, cháu Dương. Chị Hường, cháu Tùng, cháu Hương, cháu Thành vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

- ViÖc tu©n theo ph¸p luËt tè tông trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö vµ thư ký Tòa án trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tríc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n cơ bản chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.

- ViÖc tu©n theo ph¸p luËt tè tông trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tríc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.

- ViÖc tu©n theo ph¸p luËt tè tông trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña người tham gia tố tụng dân sự là bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tríc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n chưa chấp hành theo đúng qui định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

1. Về tố tụng:

Ông Viên, anh Toản, anh Phi kháng cáo bản án sơ thẩm số số 06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Anh Nguyễn Duy Thành đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy kháng cáo hợp lệ về hình thức.

Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

- Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số số 06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.

- Về thụ lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.

Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS

- Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;

2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn và anh Nguyễn Duy Thành thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015, bà bà Nguyễn Thị Ngọc Dung không tham gia phiên toà, vắng mặt không có lý do.

3. Về nội dung vụ án

Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS, Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

- Án phí dân sự phúc thẩm: không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí theo quy định. Vì vậy, kháng cáo là hợp lệ về hình thức.

. Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn,

1. Trong đơn khởi kiện ngày 08/3/2021 của bà Gái và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bà Gái (Khuyên); Biên bản lấy lời khai ngày 17/3/2021 của Trịnh Thị Điền; bà Trịnh Thị Hồng; bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Bắc và lời khai của bà Gái tại phiên tòa. Các bà đều thừa nhận 3 thửa đất 707; 684 và 715 thuộc tờ bản đồ số 2, nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50 là của ông bà ngoại để lại.

2. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm ngày 22/4/2025 bà Trịnh Thị Gái, bà Trịnh Thị Điền; bà Trịnh Thị Hồng; bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Bắc đều thừa nhận 3 thửa đất 707; 684 và 715 thuộc tờ bản đồ số 2, nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50 có nguồn gốc là của cụ Long, cụ Tít nhưng không có văn bản giấy tờ cho ai.

3. Tại đơn đề nghị ngày 01/6/2022 của ông Viên gửi tòa và tại phiên tòa, ông Viên và người đại diện cho ông Viên cũng thừa nhận 3 thửa đất 707; 684 và 715 thuộc tờ bản đồ số 2, nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50 có nguồn gốc là của cụ Long, cụ Tít.

4. Tại buổi bản làm việc ngày 01/6/2022 với Văn phòng luật sư Hữu Tuyến và công sự. Ông Hoàng Văn Nho, sinh năm 1922, cháu rể của cụ Chu Văn Long. Mẹ vợ của ông là em gái ruột của cụ Long; Bà Chu Thị Ngọ, sinh năm 1929 - cháu ruột của cụ Chu Văn Long, gọi cụ Chu Văn Long là bác ruột và ông Chu Văn Lạc là trưởng họ Chu. Bố ông Lạc gọi cụ Long là chú họ đều thừa nhận 3 thửa đất nêu trên là của cụ Long và cụ Tít – ông bà ngoại ông Viên. Việc này thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 01/6/2022 giữa Văn phòng luật sư Hữu Tuyến và cộng sự với ông Hoàng Văn Nho, bà Chu Thị Ngọ, ông Chu Văn Lạc.

5. Căn cứ vào bản đồ địa chính năm 1987 (BL 208 và 209) (sau ngày cụ Long chết 3 năm) đang lưu tại UBND xã Thanh Lâm thì thửa đất ao số 684, thuộc tờ bản đồ 02, diện tích 1.225 m2 (nay là thửa đất ao số 432, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 1340,7 m2) vẫn ghi tên là của cụ Long. Đến năm 2004 mới mang tên ông Viên. Như vậy, thửa đất ao số 684, thuộc tờ bản đồ 02, diện tích 1.225 m2 vẫn là của cụ Long, cụ Tít.

Bản án sơ thẩm số 06/2022/ST - DS ngày 21/01/2022 của TAND huyện Mê Linh đã xác định 3 thửa đất 707; 684 và 715 thuộc tờ bản đồ số 2, nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50 là của ông Giã, bà Lanh để chia thừa kếlà chưa phù hợp.

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, trước khi chết vợ chồng cụ Long, cụ Tít chưa chuyển nhượng, tặng cho cho ai 3 thửa đất 707; 684 và 715, thuộc tờ bản đồ số 2 nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50. Vẫn là của cụ Long, cụ Tít để chia cho những người thừa kế của cụ. Bởi vì:

1. Như chúng tôi đã chứng minh ở trên thì tất cả các con của ông Giã, bà Lanh đều thừa nhận nguồn gốc 3 thửa đất 707; 684 và 715 nay là thửa đất 470, 432, 511 là của cụ Long, cụ Tít để lại.

Cụ Long, cụ Tít không có văn bản nào thể hiện đã tặng hay chuyển nhượng cho 3 thửa đất này cho bà Lanh, ông Giã. Việc bà Gái, bà Điền, bà Bắc, bà Hồng, bà Hải, bà Sửu đều khai là cụ Long, cu Tít đã cho ông Giã, bà Lanh là không có căn cứ vì trong quá trình giải quyết vụ án các bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện là cụ Long và cụ Tít đã cho ông Giã, bà Lanh.

người đang quản lý sử dụng thửa đất 432, tờ bản đồ số 50, 1340,7 m2. Thửa đất này đã được tách làm 2. Anh Phi đã được Sở TN&MT Hà Nội cấp giấy CNQSD đất. QSH nhà và tài sản gắn liền với đất số CG 641250 ngày 03/6/2017 đối với thửa đất số 432-2, tờ bản đồ số 50, diện tích 678.7 m2. Còn anh Toản đã được Sở Sở TN&MT Hà Nội cấp giấy CNQSD đất, QSH nhà và tài sản gắn liền với đất số CG 641251 ngày 03/6/2017 đối với thửa đất số 432-1, tờ bản đồ số 50, diện tích 676,1 m2.

Vì vậy, thửa đất 470, tờ bản đồ số 50, diện tích 574,7 m2 và thửa đất số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích 988,9 m2 sẽ được pháp luật công nhận cho ông Viên. Thửa đất số 432-2, tờ bản đồ số 50, diện tích 678.7 m2 sẽ được pháp luật công nhận anh Phi. Còn thửa đất số 432-1, tờ bản đồ số 50, diện tích 676,1 m2 sẽ được pháp luật công nhận anh Toản.

Từ nhận định trên HĐXX. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262 m2 (nay là thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 303,5 m2) của ông Giã, bà Lanh để lại cho những người thừa kế của ông Giã, bà Lanh theo pháp luật, gồm: ông Viên, bà Gái, bà Điền; bà Hồng; bà Hải, bà Sửu, bà Bắc. Giá trị thửa đất là 2.428.000.000 đồng (303,5 m2 x 8.000.000 đồng).

Do bà Gái và ông Viên đã xây dựng nhà trên thửa đất nêu trên, vì vậy:

+ Giao cho bà Trịnh Thị Gái quản lý sử dụng 173,5 m2 nằm trong thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50 có giá trị là 173,5 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.388.000.000 đồng; Trích công tôn tạo cho bà Gái trên phần diện tích đất bà Gái đang quản lý là: 173,5 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.388.000.000 đồng x 1/3 = 462.666.667 đồng.

+ Giao cho ông Trịnh Văn Viên quản lý sử dụng 130 m2 trong thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50 có trị giá là 130 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.040.000.000 đồng. Trích công tôn tạo cho ông Viên trên phần diện tích thửa đất mà anh Toản đang quản lý là: 130 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.040.000.000 đồng x 1/3 = 346.666.667 đồng.

+ Sau khi trích công tôn tạo cho ông Viên 346.666.667 đồng; bà Gái 462.666.667 đồng thì số tiền còn lại là 1.616.666.333 đồng (2.428.000.000 đồng - 462.666.667 đồng - 346.666.667 đồng), chia cho 7 người, mỗi người được hưởng 231.238.095 đồng.

+ Sau khi đối trừ, ông Viên phải trả: 462.095.286 đồng (1.040.000.000 đồng – (346.666.667 đồng + 1.618.666.333 đồng)), bà Gái phải trả: 694.094.953 đồng (1.388.000.000 đồng – (462.667.000 đồng + 231.238.047 đồng)) cho những người thừa kế khác gồm: bà Điền; bà Hồng; bà Hải, bà Sửu, bà Bắc.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Gái về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với 3 thửa đất 707; 684 và 715, thuộc tờ bản đồ số 2 nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50 vì 3 thửa đất này là của cụ Long, cụ Tít để lại chứ không phải là đất của bà Lanh, ông Giã.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Viên, anh Toản, anh Phi nên sửa bản án sơ thẩm số06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử.

. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự trên 60 tuổi được miễn án phí do là người cao tuổi;.

Án phí phúc thẩm: Án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số số 06/2022/DSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Căn cứ Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 116; Điều 117; Điều 129; Điều 278, Điều 500, Điều 501 Bộ luật dân sự

Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế thửa đất số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262 m2 (nay là thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 303,5 m2) của ông Giã, bà Lanh để lại cho những người thừa kế của ông Giã, bà Lanh theo pháp luật, gồm: ông Viên, bà Gái, bà Điền; bà Hồng; bà Hải, bà Sửu, bà Bắc. Giá trị thửa đất là 2.428.000.000 đồng (303,5 m2 x 8.000.000 đồng).

Do bà Gái và ông Viên đã xây dựng nhà trên thửa đất nêu trên, vì vậy:

+ Giao cho bà Trịnh Thị Gái quản lý sử dụng 173,5 m2 nằm trong thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50 có giá trị là 173,5 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.388.000.000 đồng; Trích công tôn tạo cho bà Gái trên phần diện tích đất bà Gái đang quản lý là: 173,5 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.388.000.000 đồng x 1/3 = 462.666.667 đồng.

+ Giao cho ông Trịnh Văn Viên quản lý sử dụng 130 m2 trong thửa đất số 490, tờ bản đồ số 50 có trị giá là 130 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.040.000.000 đồng. Trích công tôn tạo cho ông Viên trên phần diện tích thửa đất mà anh Toản đang quản lý là: 130 m2 X 8.000.000 đồng/m2 = 1.040.000.000 đồng x 1/3 = 346.666.667 đồng.

+ Sau khi trích công tôn tạo cho ông Viên 346.666.667 đồng; bà Gái 462.666.667 đồng thì số tiền còn lại là 1.616.666.333 đồng (2.428.000.000 đồng - 462.666.667 đồng - 346.666.667 đồng), chia cho 7 người, mỗi người được hưởng 231.238.095 đồng.

+ Sau khi đối trừ, ông Viên phải trả: 462.095.286 đồng (1.040.000.000 đồng – (346.666.667 đồng + 1.618.666.333 đồng)), bà Gái phải trả: 694.094.953 đồng (1.388.000.000 đồng – (462.667.000 đồng + 231.238.047 đồng)) cho những người thừa kế khác gồm: bà Điền; bà Hồng; bà Hải, bà Sửu, bà Bắc.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Gái về việc chia thừa kế theo pháp luật đối với 3 thửa đất 707; 684 và 715, thuộc tờ bản đồ số 2 nay là thửa đất 470, 432, 511, tờ bản đồ số 50.

3. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Gái, ông Viên, bà Điền, bà Hôngf, bà Hải, bà Bắc được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Duy Thành phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Anh Nguyễn Duy Thành đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0021491 ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, được trừ vào án phí phúc thẩm.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTP Hà Nội;

- TAND quận Bắc Từ Liêm;

- Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm;

- Các đương sự;

- Lưu văn phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thanh Bình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ theo đơn khởi kiện và các tài liệu do đương sự cung cấp thì đây là “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền: Theo qui định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện”, khoản 1 “Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:”, điểm a “Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình qui định tại Điều 26 ...của bộ luật này”. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

Về thủ tục: Ông Viên, bà Bắc, bà Nhu, anh Phi, anh Toản, anh Ngũ, anh Thảo, anh Hiền, chị Ngân, anh Khánh, chị Yến, chị Thuận, cháu Lễ, cháu Thanh, cháu Dương. Chị Hường, cháu Tùng, cháu Hương, cháu Thành là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại địa phương nơi cư trú, đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đến Tòa án làm việc và giao Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng không đến Tòa án làm việc; tại phiên Tòa lần đầu và lần này vẫn vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt và dành quyền kháng cáo cho họ theo quy định của pháp luật.

Về thời hiệu mở thừa kế: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự. Nhận thấy: Cụ Trịnh Văn Giã, chết ngày 10/02/2001; cụ Chu Thị Lanh, chết ngày 12/02/1992. Ngày 08/3/2021, bà Trịnh Thị Gái có đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật sân sự năm 2015, thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/09/1990 thì thời hiệu khởi kiện thực hiện theo khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 và thời hiệu khởi kiện tính từ ngày 10/09/1990. Như vậy, thời hiệu khởi kiện về yêu cầu chia thừa kế tài sản của bà Gái đối với phần tài sản của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh vẫn nằm trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Về di sản thừa kế: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự. Nhận thấy:

1. Đối với thửa số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2 (Theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

+ Về nguồn gốc đất: Các đương sự có lời khai thống nhất nguồn gốc thửa đất là do chính quyền địa phương giao cho cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Ông Viên có lời khai xác định, khi mẹ ông Viên còn sống đã giao cho cháu Trịnh Văn Toản; bà Gái có lời khai xác định trước khi bố mẹ bà Gái chết, bố mẹ bà Gái nói cho bà Gái thửa đất này. Ngoài lời khai của các bên đương sự, không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ Giã và cụ Lanh đã cho ai thửa đất trên. Vì vậy, có cơ sở chứng cứ xác định thửa đất này là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh sau khi chết để lại.

+ Về diện tích đất: Theo bản đồ đo đạc năm 1987 thì thửa đất có số 701, tờ bản đồ số 02, diện tích 262m2; theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì thửa đất có số 490, tờ bản đồ số 50, diện tích 279,5m2; Khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc có diện tích hiện trạng là 303,5m2. (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Quá trình sử dụng các đương sự và UBND xã Thanh Lâm xác định không có tranh chấp với ai và không có đơn thư khiếu nại tranh chấp của ai; đất bà Gái quản lý sử dụng một phần có diện tích hiện trạng 173,5m2; anh Toản (con ông Viên) quản lý sử dụng một phần có diện tích hiện trạng 130m2. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất có diện tích là 303,5m2 và là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Đất được Hội đồng định giá 8.000.000đồng/m2 x 303,5 m2 = 2.428.000.000đ.

* Đối với các tài sản trên phần đất bà Gái quản lý sử dụng, gồm có: Nhà hai tầng, một tum và các tài sản khác có trên phần đất bà Gái quản lý sử dụng hiện nay: Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định do bà Gái và các con bà Gái làm nên mà có. Vì vậy, xác định nhà hai tầng, một tum và các tài sản khác có trên phần đất bà Gái quản lý sử dụng là tài sản của bà Gái và các con bà Gái.

* Đối các tài sản trên phần đất anh Toản quản lý sử dụng, gồm có: Nhà cấp 4, lợp Prô xi măng và các tài sản khác có trên phần đất anh Toản quản lý sử dụng hiện nay: Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định do gia đình anh Toản làm nên mà có. Vì vậy, xác định nhà cấp 4, lợp Prô xi măng và các tài sản khác có trên phần đất anh Toản quản lý sử dụng là tài sản của gia đình anh Toản.

2. Đối với thửa số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2 (Theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

+ Về nguồn gốc đất: Các đương sự có lời khai thống nhất nguồn gốc thửa đất là của các cụ bên ngoại để lại cho cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Ngoài lời khai của các bên đương sự, không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ Giã và cụ Lanh đã cho ai thửa đất trên. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh sau khi chết để lại.

+ Về diện tích đất: Theo bản đồ đo đạc năm 1987 thì thửa đất có số 707, tờ bản đồ số 02, diện tích 422m2; theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì thửa đất có số 490, tờ bản đồ số 50, diện tích 588,5 m2; Khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc có diện tích hiện trạng là 574,7m2. (Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Quá trình sử dụng các đương sự và UBND xã Thanh Lâm xác định không có tranh chấp với ai và không có đơn thư khiếu nại tranh chấp của ai; Thửa đất hiện nay anh Phi (con ông Viên) quản lý sử dụng. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất có diện tích là 574,7m2 và là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Đất được Hội đồng định giá 7.000.000đồng/m2 x 574,7m2 = 4.022.900.000đ.

* Đối với các tài sản trên đất, gồm có: Nhà cấp bốn 5 gian xây gạch lợp ngói có trên đất hiện nay anh Phi (con ông Viên) quản lý, sử dụng: Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định nhà cấp bốn 5 gian xây gạch lợp ngói và sân gạch, do cụ Giã và cụ Lanh cùng các con làm. Vì vậy, xác định nhà 5 gian xây gạch lợp ngói và sân gạch là tài sản chung của cụ Giã và cụ Lanh cùng các con; nhà cấp bốn 5 gian được Hội đồng định giá 15.000.000đ và sân gạch 1.650.000đ. Các đương sự không yêu cầu chia mà để cho ông Viên sở hữu, sử dụng. Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia nhà 5 gian và sân gạch mà để lại cho gia đình ông Viên sở hữu, sử dụng.

Ngoài ra trên đất còn có công trình phụ, tường gạch, cổng và các tài sản khác cùng cây cối lâm lộc khác có trên phần đất anh Phi quản lý sử dụng hiện nay: Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định do gia đình anh Phi làm nên mà có. Vì vậy, xác định công trình phụ, tường gạch, cổng ng và các tài sản khác có trên phần đất anh Phi quản lý sử dụng là tài sản của gia đình anh Phi.

3. Đối với thửa số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2 (Theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

+ Về nguồn gốc đất: Các đương sự có lời khai thống nhất nguồn gốc thửa đất là của các cụ bên ngoại để lại cho cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Ông Viên có lời khai xác định thửa đất là của ông, bà ngoại ông Viên; trong gia phả có ghi giao cho bố ông Viên quản lý, trông nom thu hoa lợi nuôi ông bà ngoại và lo mai táng ông, bà ngoại ông Viên sau này; đất hương hỏa ông Viên quản lý, trông nom thu hoa lợi để thờ cúng nên không được chia. Ngoài lời khai của các bên đương sự, không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ Giã và cụ Lanh đã cho ai thửa đất trên. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh sau khi chết để lại.

+ Về diện tích đất: Theo bản đồ đo đạc năm 1987 thì thửa đất có số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2; theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì thửa đất có số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích 988,9 m2; Khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc có diện tích hiện trạng là 988,9 m2. (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Quá trình sử dụng các đương sự và UBND xã Thanh Lâm xác định không có tranh chấp với ai và không có đơn thư khiếu nại tranh chấp của ai. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất có diện tích là 988,9m2 và là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Đất được Hội đồng định giá 135.000đồng/m2 x 988,9m2 = 133.501.500đ.

* Đối với các tài sản trên đất, gồm có: 48 cây bưởi; tường gạch và cổng sắt; Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định là tài sản của ông Viên và gia đình ông Viên. Vì vậy, xác định 48 cây bưởi; tường gạch và cổng sắt có trên đất là tài sản của gia đình ông Viên. Hội đồng định giá 48 cây bưởi x 159.600đ/cây = 7.660.800đ; tường gạch = 21.033.000 và cổng sắt = 1.500.000đ

* Về công tôn tạo, san lấp ao: Căn cứ vào lời khai các bên đương sự và tài liệu thu thập được xác định thửa đất số 715, tờ bản đồ số 02, diện tích 1042m2, theo bản đồ đo đạc năm 1987; theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì thửa đất có số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích 988,9 m2; Khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc có diện tích hiện trạng là 988,9 m2 là thửa đất ao; có diện tích khoảng 2/5 là ao, còn 3/5 là đất bờ ao trồng tre; gò đất cao và đất cấy rau muống; Ao sâu hình lòng chảo; chỗ sâu nhất khoảng 2m. Trong quá trình sử dụng gia đình ông Viên đã có công san lấp thửa ao để có diện tích như hiện nay; Vì vậy, có cơ sở chứng cứ xác định công sức san lấp, tôn tạo ao của gia đình ông Viên là 988,9m2 x 2/5 x sâu 2m x 55.000đ/m3 : 2 = 21.755.800đ.

4. Đối với thửa số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2 (Theo bản đồ đo đạc năm 1987); địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

+ Về nguồn gốc đất: Các đương sự có lời khai thống nhất nguồn gốc thửa đất là của các cụ bên ngoại để lại cho cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Ông Viên có lời khai xác định thửa đất là của ông, bà ngoại ông Viên đã bán cho ông Viên khoảng 60 năm nay nên thửa đất này là của ông Viên, không phải chia thừa kế. Ngoài lời khai của ông Viên, không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ Giã và cụ Lanh đã bán cho ông Viên thửa đất này. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh sau khi chết để lại.

+ Về diện tích đất: Theo bản đồ đo đạc năm 1987 thì thửa đất có số 684, tờ bản đồ số 02, diện tích 1225m2; theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì thửa đất có số 432, tờ bản đồ số 50, diện tích 1391,3 m2; Khi xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc có diện tích hiện trạng là 1340,7 m2. (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Quá trình sử dụng các đương sự và UBND xã Thanh Lâm xác định không có tranh chấp với ai và không có đơn thư khiếu nại tranh chấp của ai. Vì vậy, có căn cứ xác định thửa đất có diện tích là 1340,7 m2 và là tài sản chung của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh. Đất được Hội đồng định giá 135.000đồng/m2 x 1340,7m2 = 180.994.500đ.

* Đối với các tài sản trên đất, gồm có: 71 cây bưởi; rào lưới sắt bao quanh; Các bên đương sự có lời khai thống nhất xác định là tài sản của ông Viên và gia đình ông Viên. Vì vậy, xác định 71 cây bưởi và rào lưới sắt bao quanh có trên đất là tài sản gia đình ông Viên.

VÒ di chóc: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự. Nhận thấy: Các đương sự đều có lời khai thống nhất xác định cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh chết không để lại di chúc và cũng không có ai cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh có để lại đi chúc về tài sản. V× vËy, di s¶n cña cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh ®îc chia thừa kế theo ph¸p luËt.

Về hàng thừa kế: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự. Nhận thấy: Cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh có 7 người con, gồm: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Gái (Khuyên). Ngoài ra cụ Giã và cụ Lanh không có con nào khác. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 và Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Giã và cụ Lanh chỉ có 7 người con là bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Gái (Khuyên).

Về công sức: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự. Nhận thấy: Gia đình bà Gái và gia đình ông Viên có công quản lý, duy trì, tôn tạo di sản do cụ Giã và cụ Lanh để lại sau khi hai cụ chết và nộp thuế sử dụng đất theo qui đinh của nhà nước. Vì vậy, trích công sức cho gia đình bà Gái và gia đình ông Viên bằng 1/3 di sản thừa kế là phù hợp; trong đó gia đình bà Gái quản lý 173,5m2 đất ở x 8.000.000đ/m2 = 1.388.000.000đ, trích công sức 1/3 = 462.667.000đ; gia đình ông Viên quản lý 130m2 đất ở x 8.000.000đ/m2 = 1.040.000.000đ; 574,7m2 đất ở x 7.000.000đ/m2 = 4.022.900.000đ; 988,9m2 đấ ao x 135.000đ/m2 = 133.501.500đ và 1340,7m2 đất ao x 135.000đ/m2 = 180.994.500đ. Cộng = 5.377.396.000đ; trích công sức 1/3 = 1.792.465.000 đ

* Gia đình ông Viên sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên thửa đất đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2, gồm: Tường gạch trị giá 22.503.305đ; cổng sắt trị giá 1.500.000đ; 48 cây bưởi trị giá 7.660.800đ và công san lấp thửa đất ao trị giá 21.033.000đ. Tổng cộng = 52.697.105 đồng.

Về chia thừa kế tài sản: Tài sản của cụ Giã và cụ Lanh sau khi trích công sức cßn lµ 6.765.396.000 đồng - 2.255.132.000 đồng = 4.510.264.000 đồng, chia thõa kÕ theo ph¸p luËt cho bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu, bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) mçi ng-êi hëng 1/7 = 644.323.428 đồng.

- Tổng cộng bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) được hưởng là 1.110.990.428 đồng, gồm: Kỷ phần thừa kế 644.323.428 đồng và trích công sức 466.667.000 đồng.

- Tổng cộng Ông Trịnh Văn Viên được hưởng là 2.436.788.428 đồng, gồm: Kỷ phần thừa kế 644.323.428 đồng và trích công sức 1.792.465.000 đồng.

Giao cho c¸c bªn nh sau:

1/ Giao cho ông Trịnh Văn Viên:

1. Quản lý và sử dụng 130 m2 đất ở trong thửa đất ở số 490, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 303,5m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 130m2 x 8.000.000đ/m2 = 1.040.000.000 đồng

2. Quản lý và sử dụng thửa đất ở số 470, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 574,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 574,7m2 x 7.000.000đ/m2 = 4.022.900.000 đồng

3. Quản lý và sử thửa đất ao số 432, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 1340,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 1340,7m2 x 135.000đ/m2 = 180.994.500 đồng

Tổng cộng được giao trị giá là 5.243.894.500 đồng; So với kỷ phần được hưởng 2.436.788.428 đồng, còn thừa 2.807.106.072 đồng; ông Viên có trách nhiệm thanh toán cho bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu. Gia đình ông Viên sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên đất được giao.

2/ Giao cho bà Trịnh Thị Gái (Khuyên):

1. Quản lý và sử dụng 173,5m2 đất trong thửa đất số 490, tờ bản đồ 50; diện tích đo đạc thực tế là 303,5m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 173,5m2 x 8.000.000đ/m2 = 1.388.000.000 đồng;

2. Quản lý và sử dụng 190,2 m2 trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 190,2 m2 x 135.000đ/m2 = 25.677.000 đồng

Tổng cộng được giao trị giá là 1.413.677.000 đồng; So với kỷ phần được hưởng 1.106.990.428 đồng, còn thừa 306.68.572 đồng; bà Gái có trách nhiệm thanh toán cho bà Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu mỗi người 61.337.314 đồng. Gia đình bà Gái sở hữu tài sản của gia đình bà Gái có trên đất ở được giao.

3/ Giao cho bà Trịnh Thị Điền:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 6.304.200 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 11.086.500 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 30.526.500 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 30.526.500 đồng, còn thiếu 613.796.928 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 552.459.614 đồng (Làm tròn số là 552.460.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

4/ Giao cho bà Trịnh Thị Hồng:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 4.202.800 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng; 1/2 cổng sắt 750.000 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 9.735.100 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.175.100 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.175.100 đồng, còn thiếu 615.148.328 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.811.014 đồng (Làm tròn số là 553.811.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

5/ Giao cho bà Trịnh Thị Hải:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 4.202.800 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng; 1/2 cổng sắt 750.000 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 9.735.100 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.175.100 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.175.100 đồng, còn thiếu 615.148.328 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.811.014 đồng (Làm tròn số là 553.811.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

6/ Giao cho bà Trịnh Thị Bắc:

- Quản lý và sử dụng 185,7m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 185,7m2 x 135.000đ/m2 = 25.069.500 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 292.125 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 5.074.425 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 30.143.925 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 30.143.925 đồng, còn thiếu 614.179.503 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.842.189 đồng (Làm tròn số là 553.842.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

7/ Giao cho bà Trịnh Thị Sửu:

- Quản lý và sử dụng 181m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 181m2 x 135.000đ/m2 = 24.435.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 608.788 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 5.391.088 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.826.088 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.826.088 đồng, còn thiếu 614.497.340 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.160.026 đồng (Làm tròn số là 553.160.000 đồng). Gia đình bà Sửu sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

Về án phí dân sự: 114.765.000 đồng, trong đó: Bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) phải chịu 18.778.000 đồng; ông Trịnh Văn Viên phải chịu 41.337.000 đồng; bà Trịnh Thị Điền phải chịu 10.930.000 đồng; bà Trịnh Thị Hồng phải chịu 10.930.000 đồng; bà Trịnh Thị Hải phải chịu 10.930.000 đồng; bà Trịnh Thị Bắc phải chịu 10.930.000 đồng; bà Trịnh Thị Sửu phải chịu 10.930.000 đồng.

Theo quy định tại theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; “Khoản 1. Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:…đ)…người cao tuổi..”; Theo Điều 2 Luật người cao tuổi “người cao tuổi được qui định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”; bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc nay hơn 60 tuổi được xác định là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- §iÒu 623, §iÒu 649, §iÒu 650, §iÒu 651, §iÒu 658và §iÒu 660 Bé luËt d©n sù năm 2015.

- Kho¶n 1, Kho¶n 3 §iÒu 100; §iÒu 203 LuËt ®Êt ®ai.

- Kho¶n 5 §iÒu 26, ĐiÒu 203, §iÒu 220, §iÒu 271, §iÒu 272 và §iÒu 273 Bé luËt tè tông d©n sù năm 2015.

- LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 9 Điều 26; khoản 7 Điều 27 NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña Ủy ban thường vụ quốc hội. Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án

Xö: ChÊp nhËn yªu cÇu chia thõa kÕ cña bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) đối với ông Trịnh Văn Viên.

[1] Về thời hiệu thừa kế: Xác định cụ Trịnh Văn Giã, chết ngày 10/02/2001; cụ Chu Thị Lanh, chết ngày 12/02/1992. Thời hiệu mở thừa kế chia di sản của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh vẫn còn.

[2] Về tài sản thừa kế: X¸c ®Þnh tài s¶n cña cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh ®Ó l¹i, gồm:

1. Thửa đất ở số 490, tờ bản đồ số 50, có diện tích đo đạc hiện trạng là 303,5m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, có trị giá là 2.428.000.000 đồng

2. Thửa đất ở số 470, tờ bản đồ số 50, có diện tích đo đạc hiện trạng là 574,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, có trị giá là 4.022.900.000 đồng

3. Thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, có diện tích đo đạc hiện trạng là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, có trị giá là 133.501.500 đồng

4. Thửa đất ao số 432, tờ bản đồ số 50, có diện tích đo đạc hiện trạng là 1340,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, có trị giá là 180.994.500 đồng

Tổng cộng trị giá = 6.765.396.000 đồng.

[3] VÒ di chóc: X¸c ®Þnh cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh chÕt kh«ng ®Ó l¹i di chóc. Di s¶n cña cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh ®îc chia thừa kế theo ph¸p luËt.

[4] Về hµng thõa kÕ: Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh, gồm có 7 người con là: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu và Trịnh Thị Gái (Khuyên).

[5] VÒ c«ng søc:

- TrÝch c«ng søc cho gia đình bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) bằng 1/3 trị giá tài sản thừa kế do gia đình bà Gái quản lý, sử dụng = 462.667.000đồng.

- TrÝch c«ng søc cho gia đình ông Trịnh Văn Viên bằng 1/3 trị giá tài sản thừa kế do gia đình ông Viên quản lý, sử dụng = 1.792.465.000đồng.

- Gia đình ông Viên sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên thửa đất đất ao số 511, tờ bản đồ số 50, diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2, gồm: Tường gạch trị giá 22.503.305đ; cổng sắt trị giá 1.500.000đ; 48 cây bưởi trị giá 7.660.800đ và công san lấp thửa đất ao trị giá 21.033.000đ. Tổng cộng = 52.697.105 đồng )

[6] Về chia thừa kế tài sản:

- Di s¶n cụ Trịnh Văn Giã và cụ Chu Thị Lanh ®Ó l¹i trị giá = 6.765.396.000 đồng. TrÝch c«ng søc cho gia đình bà Trịnh Thị Gái (Khuyên) = 462.667.000đồng; TrÝch c«ng søc cho gia đình ông Trịnh Văn Viên = 1.792.465.000đồng; cßn trị giá lµ 4.510.264.000đ đồng, chia thõa kÕ theo ph¸p luËt cho 7 người con, gồm: Bà Trịnh Thị Điền, ông Trịnh Văn Viên, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu và Trịnh Thị Gái (Khuyên) mçi ngêi hëng 1/7 = 644.323.428 đồng.

* Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu chia nhà 5 gian và sân gạch mà để lại cho gia đình ông Viên sở hữu, sử dụng

[7] Giao cô thÓ cho c¸c bªn nh sau:

1/ Giao cho ông Trịnh Văn Viên:

1. Quản lý và sử dụng 130 m2 đất trong thửa đất ở số 490, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 303,5m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 130m2 x 8.000.000đ/m2 = 1.040.000.000 đồng.

2. Quản lý và sử dụng thửa đất ở số 470, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 574,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 574,7m2 x 7.000.000đ/m2 = 4.022.900.000 đồng.

3. Quản lý và sử dụng thửa đất ao số 432, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 1340,7m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 1340,7m2 x 135.000đ/m2 = 180.994.500 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 5.243.894.500 đồng; so với kỷ phần được hưởng 2.436.788.428 đồng và 52.697.105 đồng trị giá tài sản của gia đình ông Viên giao các hàng thừa kế, còn thừa 2.766.083.857 đồng (Làm tròn số 2.766.084.000 đồng); ông Viên có trách nhiệm thanh toán cho bà Trịnh Thị Điền 552.460.000 đồng; bà Trịnh Thị Hồng 553.811.000 đồng; bà Trịnh Thị Hải 553.811.000 đồng; bà Trịnh Thị Bắc 552.842.000 đồng; bà Trịnh Thị Sửu 553.160.000 đồng. Gia đình ông Viên sở hữu tài sản của gia đình ông Viên và các tài sản khác có trên đất được giao.

2/ Giao cho bà Trịnh Thị Gái (Khuyên):

1. Quản lý và sử dụng 173,5m2 đất trong thửa đất số 490, tờ bản đồ 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004); diện tích đo đạc thực tế là 303,5m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 173,5m2 x 8.000.000đ/m2 = 1.388.000.000 đồng;

2. Quản lý và sử dụng 190,2 m2 trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 190,2 m2 x 135.000đ/m2 = 25.677.000 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 1.413.677.000 đồng; so với kỷ phần được hưởng 1.106.990.428 đồng, còn thừa 306.686.072 đồng; bà Gái có trách nhiệm thanh toán cho Trịnh Thị Điền, bà Trịnh Thị Hồng, bà Trịnh Thị Hải, bà Trịnh Thị Bắc, bà Trịnh Thị Sửu mỗi người 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng).

3. Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Gái, gồm: Phần tường gạch trị giá 6.892.592 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 11.674.892 đồng; Bà Gái thanh toán trả ông Viên số tiền 11.674.892 đồng; làm tròn số 11.675.000 (Mười một triệu, sáu trăm bẩy mươi lăm nghìn) đồng. Gia đình bà Gái sở hữu tài sản của gia đình bà Gái và các tài sản khác có trên đất được giao.

3/ Giao cho bà Trịnh Thị Điền:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 6.304.200 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 11.086.500 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 30.526.500 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428 đồng, còn thiếu 613.796.928 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 552.459.614 đồng (Làm tròn số là 552.460.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất được giao.

4/ Giao cho bà Trịnh Thị Hồng:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 4.202.800 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng; 1/2 cổng sắt 750.000 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 9.735.100 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.175.100 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.175.100 đồng, còn thiếu 615.148.328 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.811.014 đồng (Làm tròn số là 553.811.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

5/ Giao cho bà Trịnh Thị Hải:

- Quản lý và sử dụng 144m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 144m2 x 135.000đ/m2 = 19.440.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 4.202.800 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng; 1/2 cổng sắt 750.000 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 9.735.100 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.175.100 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.175.100 đồng, còn thiếu 615.148.328 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.811.014 đồng (Làm tròn số là 553.811.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

6/ Giao cho bà Trịnh Thị Bắc:

- Quản lý và sử dụng 185,7m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 185,7m2 x 135.000đ/m2 = 25.069.500 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 292.125 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 5.074.425 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 30.143.925 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 30.143.925 đồng, còn thiếu 614.179.503 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.842.189 đồng (Làm tròn số là 553.842.000 đồng). Gia đình bà Điền sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

7/ Giao cho bà Trịnh Thị Sửu:

- Quản lý và sử dụng 181m2 đất trong thửa đất ao số 511, tờ bản đồ số 50 (theo bản đồ đo đạc năm 2004), diện tích đo đạc thực tế là 988,9m2; địa chỉ: thôn Yên Vinh, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có trị giá là 181m2 x 135.000đ/m2 = 24.435.000 đồng.

- Sở hữu tài sản của gia đình ông Viên có trên phần đất ao được giao cho bà Điền, gồm: Phần tường gạch trị giá 608.788 đồng; 8 cây bưởi trị giá 1.276.800 đồng và 3.505.500 đồng tiền công san lấp ao. Cộng = 5.391.088 đồng.

Tổng cộng được giao trị giá là 29.826.088 đồng; so với kỷ phần được hưởng 644.323.428đ - 29.826.088 đồng, còn thiếu 614.497.340 đồng do bà Gái thanh toán trả số tiền 61.337.314 đồng (Làm tròn số là 61.337.000 đồng) và ông Viên thanh toán trả 553.160.026 đồng (Làm tròn số là 553.160.000 đồng). Gia đình bà Sửu sở hữu tài sản có trên đất ở được giao.

* Có trích đo hiện trạng các thửa đất và sơ đồ giao đất kèm theo.

*Các tài sản khác và cây cối lâm lộc khác có trên phần đất của ai người đó được sở hữu.

[8] Về án phí:

- Bà Gái phải chịu án phí sơ thẩm là 18.778.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.071.000đ, theo biên lai thu số AA/2017/0009994 ngày 16/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh; bà Gái còn phải nộp tiếp 9.707.000 (Chín triệu, bẩy trăm lẻ bẩy nghìn) đồng để sung công quỹ nhà nước.

- Bà Sửu phải chịu án phí sơ thẩm là 10.930.000 (Mười triệu, chín trăm ba mươi nghìn) đồng để sung công quỹ nhà nước.

- Ông Viên, bà Điền, bà Hồng, bà Hải, bà Bắc được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

[9] Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo qui định tại Khoản 2 Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[10] Trêng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ®îc thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t¹i ĐiÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ngêi ®îc thi hµnh ¸n d©n sù, ngêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc c-ìng chÕ thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6; 7; 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n d©n sù ®îc thùc hiÖn theo qui ®Þnh t¹i ĐiÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

[11] Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.

Cỡ chữ