- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án giữa chị Đinh Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Xuân A"
- Tòa quyết gì? Cho chị Đinh Thị Ngọc Y được ly hôn anh Nguyễn Xuân A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 367/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-12-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Phương.
2. Ông Tạ Xuân Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ngọc Y, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân A, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 9 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc Y trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân A ở gần nhà, quen biết, tìm hiểu khoảng 02 năm thì tự nguyện đi đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 5 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi cưới vợ chồng chị sống hạnh phúc, cách đây khoảng 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhâu mâu thuẫn là do anh A cờ bạc, nợ nần, không chăm lo cho vợ con. Vợ chồng chị sống ly thân 05 năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A.
Về con chung: Chị và anh A có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khánh H, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2008 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2012. Hiện 02 con đang sống với chị. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Chị và anh A không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh chị không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Nguyễn Xuân A không đến tòa làm việc cũng như không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên Toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Y được ly hôn với anh A, giao 02 con chung cho chị Y nuôi. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Đinh Thị Ngọc Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với anh Nguyễn Xuân A là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh A đang cư trú tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh A, chị Y.
Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có chị Y cung cấp tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ này và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án để giải quyết vụ án.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Xuân A tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18 tháng 5 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn D nên hôn nhân giữa chị Y, anh A là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh A cờ bạc, nợ nần, không chung tay với vợ chăm lo cho con cái. Tuy là vợ chồng nhưng sống ly thân đã 05 năm, không còn quan tâm gì tới cuộc sống của nhau. Chị Y nộp đơn ly hôn nhưng anh A không đến Toà cũng như không đưa ra ý kiến gì để đoàn tụ. Điều đó có thể chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị Y, anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Y được ly hôn anh A.
Về quan hệ con chung: Chị Y và anh A có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh H, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2008 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2012. Chị Y yêu cầu được nuôi 02 con chung. Xét thấy, trong thời gian không sống chung chị Y vẫn đảm bảo các điều kiện để cháu H, cháu L được phát triển bình thường và 02 con đều có nguyện vọng được sống cùng với chị Y. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu H, cháu L cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nợ: Chị Y, anh A không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Đinh Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
1. Cho chị Đinh Thị Ngọc Y được ly hôn anh Nguyễn Xuân A.
2. Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh H, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2008 và cháu Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 11 tháng 5 năm 2012 cho chị Đinh Thị Ngọc Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Xuân A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Chị Đinh Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Y đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001737 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơinhận:
| - Đương sự; - VKSND huyện Tuy Phước; - CC THADS huyện Tuy Phước; - UBND thị trấn Diêu Trì (Số 41/2011); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |