vanban.org

Bản án 367/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyên L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Trả lại cho bị cáo Trần Nguyên L 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell đã qua sử dụng (thiếu 05 nút bàn phím). Giao trả lại số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng tiền Việt Nam và 200 (hai trăm) USD cho bà Trần Thị B và Trần Nguyên L, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyên L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Nguyên L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số : 367/2017/HSST
Ngày
: 25/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy

Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Ngọc Vi;

2. Ông Trần Ngọc Thực;

3. Ông Thiều Đình Thu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 440/2017/HSST ngày 09/08/2017 đối với bị cáo:

Trần Nguyên L, sinh năm: 1988, tại: tỉnh Q; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; trú tại: khu phố 6, Phường Q1, Thị xã Q, tỉnh Q; chỗ ở: 33/11C/1 đường G1, Phường G2, quận G, Thành phố H; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: không; con ông X (1957) và bà Y (1963); có vợ Trần Thị B (1984) và 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Q xử phạt 03 tháng 13 ngày tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản";

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2017 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hoàn, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nhân Luật, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị B; sinh năm: 1984; Trú tại: xã C1, huyện C2, tỉnh C; Chỗ

ở: hẻm 537 đường G1, Phường G3, quận G, Thành phố H (có mặt).

2. Ông Trần Thanh T; sinh năm: 1993; Trú tại: tổ 13 ấp D1, xã D2,

huyện D3, tỉnh D; Chỗ ở: hẻm 537 đường G1, Phường G3, quận G,

Thành phố H (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Trần Nguyên L bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 28/02/2017, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Gò Vấp phối hợp với Công an Phường 8, quận Gò Vấp kiểm tra phòng 104 khách sạn Vân Anh, số 1224 Quang Trung, Phường 8, quận Gò Vấp, phát hiện và bắt quả tang Trần Nguyên L có hành vi tàng trữ ma túy để bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời. Qua kiểm tra đã thu giữ được tổng cộng gồm: 220,1591g loại Methamphetamine; 10,6535g loại Ketamine và 120,7336g loại MDMA (theo Kết quả giám định số 545/KLGĐ-H ngày 07/4/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh); 27.400.000 đồng; 200 USD; 02 chiếc nhẫn và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 điện thoại di động; 01 máy tính bảng; 01 cân điện tử và 01 xe gắn máy biển số 72E1-284.94. Khi bắt giữ L tại phòng 104 khách sạn Vân Anh còn có Thân Trọng N và Đặng Thị Kim N1 là bạn của L đến khách sạn chơi, nên Cơ quan Điều tra – Công an quận Gò Vấp đã đưa tất cả về Công an Phường 8, quận Gò Vấp lập biên bản phạm tội quả tang đối với Trần Nguyên L và ghi lời khai làm rõ sự việc đối với N và N1. Đồng thời Cơ quan Điều tra – Công an quận Gò Vấp tiến hành khám xét chỗ ở của L tại số 33/11C/1 đường G1, Phường G2, quận G đã thu giữ thêm 01 máy tính xách tay hiệu Dell. Sau đó, Công an quận Gò Vấp đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và vật chứng đến Phòng Cảnh sát Điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra xử lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Trần Nguyên L đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Vào đầu tháng 2/2017, thông qua người bạn tên X giới thiệu L quen biết đối tượng tên H (không rõ lai lịch) để L mua ma túy sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác kiếm lời. Bắt đầu từ ngày 12/02/2017 cho đến khi bị bắt, L đã mua ma túy của H tổng cộng được 4 lần để bán lại, cụ thể:

- Trong ba lần đầu: Vào ngày 12, 15 và 19/02/2017, L đã mua của H mỗi lần 01 gói ma túy đá (tổng cộng 3 gói) với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

- Lần thứ 4: Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 26/02/2017, L điện thoại cho H để mua 50g ma túy đá và 01 gói Ketamine, H báo giá 16.000.000 đồng và hẹn gặp L tại khu vực chung cư Khang Gia gần Công ty Huê Phong, quận Gò Vấp để giao ma túy và nhận tiền. Khi đến điểm hẹn, L điện thoại cho H, thì được H chỉ dẫn chổ để ma túy là ở góc tường của trường học sau lưng Công ty Huê Phong sát với bờ kênh, tại đây có 2 hộp giấy, 01 hộp giấy có ma túy và 01 hộp giấy trống để L bỏ tiền vào cho H. Theo hướng dẫn của H, L lấy 16.000.000 đồng bỏ vào 1 hộp giấy và lấy hộp giấy có ma túy đem về chổ thuê trọ tại đường G1, quận G cất giấu. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, L mang số ma túy mua được đến thuê phòng 104 khách sạn Vân Anh, số 1224 Quang Trung, Phường 8, quận Gò Vấp để bán lại cho khách. Khi ở trong phòng khách sạn, L mở hộp giấy đựng ma túy ra kiểm tra, thấy bên trong có 05 gói ma túy đá, 01 gói Ketemine. Sau đó, L lấy 01 gói ma túy đá ra chia làm thành 02 gói nhỏ, L sử dụng 01 gói, còn 01 gói L bán lại cho đối tượng tên X (không rõ lai lịch) với giá 2.500.000 đồng. Số ma túy còn lại, L đang cất giữ tại phòng 104 khách sạn Vân Anh để tiếp tục bán, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên.

Ngoài ra, Trần Nguyên L còn khai nhận đã 2 lần nhận ma túy từ H và một người tên Y (không rõ lai lịch) để đi bán giúp ma túy cho H và Y, cụ thể:

- Ngày 25/02/2017, Y đến khách sạn Vân Anh đưa cho L 350 viên nén (thuốc lắc) hình tròn màu xanh lá cây nhạt có khắc hình “Vương miện”; 10 viên nén màu trắng và 01 gói chất bột màu trắng, đồng thời nói L bán số thuốc lắc với giá 100.000 đồng/viên, sau khi bán hết số ma túy thì Y sẽ chia cho L 10% trên số tiền bán được ma túy. Còn đối với 01 gói chứa chất bột màu trắng, Y nói là hàng giả, L bán được thì bán và L đồng ý. Sau đó, L mang toàn bộ số ma túy trên về phòng 104 khách sạn Vân Anh cất giữ để bán nhưng chưa bán được, thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.

- Ngày 28/02/2017, H gọi điện thoại cho L kêu L đến khu vực phía sau Công ty Huê Phong tại góc tường của trường học lấy 01 hộp giấy có chứa ma túy (bên trong chứa thuốc lắc và ma túy đá) mang về khách sạn Vân Anh cất giấu và sau đó có người sẽ liên lạc với L để lấy ma túy, khi giao xong số ma túy, H sẽ trả công cho L 1.800.000 đồng, còn tiền mua bán thì H và người mua sẽ thanh toán với nhau. Sau đó, L đến địa điểm lấy 01 hộp giấy bên ngoài có ghi chữ “Samsung Galaxy tab” đem về khách sạn cất giữ (không rõ số lượng bao nhiêu), để giao theo yêu cầu của H nhưng chưa thực hiện, thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.

Đối với Thân Trọng N và Đặng Thị Kim N1 là bạn của Trần Nguyên L cùng ở chung phòng 104 khách sạn Vân Anh chung với L khi bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, N và N1 khai nhận là bạn với L đến khách sạn chơi và sử dụng ma túy tại đây, nhưng không biết việc L có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, lời khai của N, N1 phù hợp lời khai của L. Do không có chứng cứ nào khác để chứng minh N và N1 có liên quan đến hành vi của L, nên Công an quận Gò Vấp đã bàn giao N và N1 cho Công an phường 8, quận Gò Vấp xử lý hành chính và ngày 07/3/2017 Công an phường 8, quận Gò Vấp đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Thân Trọng N và Đặng Thị Kim N1 theo quy định (bút lục 54, 61 ).

Đối với đối tượng tên H và Y là người bán ma túy cho L; tên X là người mua ma túy của L, do bị can khai không biết rõ lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để truy xét làm rõ.

Vật chứng vụ án, gồm có:

- 03 gói niêm phong biên trong là ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Nguyễn Văn Phúc, ghi vụ số 545/2017 (gói 1,2,3);

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung;

- 01 máy tính bảng hiệu Samsung;

- 01 máy tính xách tay hiệu Dell (thiếu 05 nút bàn phím);

- 01 cân điện tử; 01 bình ga, 01 nỏ thủy tinh; 01 bình nhựa;

- 01 xe ôtô biển số 72E1-284.94, qua xác minh do anh Trần Thanh T đứng tên chủ sở hữu. Qua điều tra được biết, vào ngày 28/02/2017 anh T có cho Trần Nguyên L mượn chiếc xe trên để sử dụng và anh T không biết L sử dụng xe trên vào việc phạm tội (lời khai của L phù hợp với lời khai của anh T). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh đang tạm giữ chiếc xe trên chờ xử lý.

- Tiền Ngân hàng Nhà Nước: 27.400.000 đồng (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nộp Kho bạc Nhà Nước Quận 10). Trong đó, 25.000.000 đồng là tiền của bà Trần Thị B - vợ bị cáo L để dành để chuẩn bị về quê Quảng Ngãi. Số tiền còn lại 2.400.000 đồng là tiền L sử dụng để mua bán ma túy.

- Tiền đô la Mỹ: 200USD (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nộp Ngân hàng Vietcombank). Tại bản cáo trạng số 315/CTr-VKS-P1 ngày 28/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Nguyên L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Trần Nguyên L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự cho bị cáo do bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điêu 194 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 (mười tám) đến 20 (hai mươi) năm tù, buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước và yêu cầu xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư.

XÉT THẤY:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Nguyên L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng, kết quả giám định, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 02/2017, bị cáo Trần Nguyên L đã có hành vi mua ma túy từ các đối tượng không rõ lai lịch về nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm lời. Đến ngày 28/02/2017, khi bị cáo L nhận ma túy về cất giấu tại phòng 104 khách sạn Vân Anh địa chỉ số 1224 Quang Trung, Phường 8, quận Gò Vấp chưa kịp bán lại, thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận Gò Vấp phối hợp với Công an Phường 8, quận Gò Vấp kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt quả tang, thu giữ ma túy với tổng số lượng là 351,5462gram, gồm 220,1591gram loại Methamphetamine; 10,6535gram loại Ketamine và 120,7336gram loại MDMA. Do các chất ma túy ở thể rắn thu giữ của bị cáo có khối lượng trên 300 gram, nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Nguyên L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo L về tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với số lượng ma túy bị cáo Trần Nguyên L khai nhận trước ngày 28/02/2017 không có đủ cơ sở xác định ngoài lời khai của bị cáo, do đó không truy xét.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cao cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nên cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Trần Nguyên L mua bán ma túy kiếm lời, thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền là 20.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 03 gói niêm phong biên trong là ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của GĐV Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Nguyễn Văn Phúc, ghi vụ số 545/2017 (1, 2, 3) là vật cấm lưu hành nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Honda, loại xe 02 bánh, số loại Dream, biển số 72E1-284.94; số khung HA08095Y-745469 (sét mờ); số máy HA08E-0745428 (ghi theo số cà, sét mờ) qua xác minh do anh Trần Thanh T đứng tên chủ sở hữu, do anh T cho bị cáo L mượn xe nhưng không biết L dùng để mua bán ma túy nên trả lại xe này cho anh T.

- Đối với 01 điện thoại di động Samsung và 01 máy tính bảng Samsung Galaxy Tab là phương tiện phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước.

- Đối với 01 máy tính xách tay hiệu Dell (thiếu 05 nút bàn phím) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 cân điện tử màu đen, 01 bình ga; 01 nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa là vật sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nữa nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 25.000.000 đồng, là tiền để dành của bà Trần Thị B và Trần Nguyên L trong quá trình sinh sống, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bà Trần Thị B. Tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo L.

- Đối với số tiền 2.400.000 đồng và 200USD là tiền bị cáo L khai nhận dùng để mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Nguyên L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Nguyên L 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2017. Buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước. Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Trần Nguyên L 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell đã qua sử dụng (thiếu 05 nút bàn phím).

- Giao trả lại số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng tiền Việt Nam và 200 (hai trăm) USD cho bà Trần Thị B và Trần Nguyên L, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo L.

- Giao trả lại cho ông Trần Thanh T 01 (một) chiếc xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu Honda, loại xe 02 bánh, số loại Dream, biển số 72E1-284.94; số khung HA08095Y-745469 (sét mờ); số máy HA08E-0745428 (ghi theo số cà, sét mờ).

- Tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) gói niêm phong biên trong là ma túy còn lại sau giám định có chữ ký của GĐV Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Nguyễn Văn Phúc, ghi vụ số 545/2017 (1,2,3); 01 (một) cân điện tử màu đen, 01 (một) bình ga; 01(một) nỏ thủy tinh và 01(một) bình nhựa.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động Samsung; 01(một) máy tính bảng Samsung Galaxy Tab; số tiền 2.400.000 đồng và số tiền 200USD.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 320/17+ ngày 01/8/2017 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh – Bút lục 139; giấy Chứng nhận nộp tiền vào kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, số hóa đơn 260617.2770.0001- Bút lục 134; Giấy nộp tiền vào tài khoản Kho bạc Nhà nước Quận 10 ngày 26/6/2017 – Bút lục 113)

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ