vanban.org

Bản án 3662/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Văn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3662/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22- 9-2022
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Vạn

2. Bà Đinh Thị Thảo

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu, Thư ký

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ

Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia

đình sơ thẩm thụ lý số 1531/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 về

việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6255/2022/QĐXXST-

HNGĐ ngày 30/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Kim A, sinh năm 1973 ( có mặt)

Địa chỉ: 480/8 Hoàng Hữu Nam, tổ 1, khu phố G, phường L, thành phố

Thủ Đức.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: 480/8 Hoàng Hữu Nam, tổ 1, khu phố G, phường L, thành phố

Thủ Đức.

NHẬN THẤY:

Trong đơn xin ly hôn ngày 24/5/2022 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn

là bà Tạ Thị Kim A trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo

Giấy chứng nhận kết hôn số 47 quyển số 01/1992 ngày 30/12/1992. Cuộc sống

chung sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống,

sự khác biệt về sở thích dẫn đến thường xuyên cãi vã đã làm cho tình cảm vợ

chồng càng thêm rạn nứt. Đôi bên cố gắng để cuộc sống gia đình tốt hơn nhưng

không thể hàn gắn tình cảm gia đình. Hai bên không còn sự quan tâm đến nhau,

mạnh ai nấy sống. Bà xác định không còn tình cảm với ông C, không thể hàn gắn và tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C có ba người con chung Nguyễn Thành T, sinh

năm 1993, Nguyễn Thành K, sinh năm 1996 và Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997. Các người con đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn C dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng

vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, bà A giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông C; các con chung

đã trưởng thành; Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ

án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn: Bà Tạ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Văn C; Các con chung đều đã trưởng thành; Tài sản chung tự thỏa thuận giải quyết; Nợ chung không có. Bà Kim A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Tạ Thị

Kim A và ông Nguyễn Văn C đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủ Đức cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 quyển số 01/1992 ngày 30/12/1992. Bà A yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông C cư trú tại phường L, thành phố Thủ Đức. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

.Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn C dù đã được Tòa án

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án

tiến hành xét xử vắng mặt ông C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ

luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo lời khai của bà Kim A thì vợ chồng bà tự nguyện đăng ký kết

hôn với nhau vào năm 1992. Cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn giữa vợ

chồng, đôi bên không còn sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc .

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý

vụ án hôn nhân gia đình do bà Tạ Thị Kim A là người khởi kiện yêu cầu ly hôn

với ông Nguyễn Văn C. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ

theo quy định của pháp luật cho ông C đến Tòa án để ghi lời khai, hòa giải

nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông C không có

thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ

chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có

nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;

cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…Vợ chồng có nghĩa

vụ sống chung với nhau…”

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, vợ

chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau

là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm

vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà A

yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông C là có cơ sở giải quyết.

Về con chung: Ba người con chung Nguyễn Thành T, sinh năm

1993, Nguyễn Thành K, sinh năm 1996 và Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997đều

đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà Kim A không yêu cầu Tòa án giải quyết tài

sản chung, ông C cũng không có yêu cầu gì về tài sản chung nên Hội đồng xét

xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Kim A khai không có nợ chung.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Tạ Thị Kim A

phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Kim A

đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0027313 ngày

01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Từ những nhận định và phân tích trên, xét thấy đề nghị của kiểm sát viên

tại phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Văn

C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 47 quyển số 01/1992 ngày 30/12/1992 do

Ủy ban nhân dân xã L, huyện Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Tạ Thị Kim A và ông Nguyễn Văn C không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Ba người con chung Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997,

Nguyễn Thành K, sinh năm 1996 và Nguyễn Thành T, sinh năm 1993 đều đã trưởng thành.

- Về tài sản chung: Đôi bên tự thỏa thuận giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: 300.000 đồng bà Tạ Thị Kim A phải nộp nhưng được cấn

trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Kim A đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0027313 ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ