- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị L - Đoàn Ngọc C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị L. Bà Dương Thị L được ly hôn với ông Đặng Thị Tuyết N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 366/2026/HNGĐ - ST Ngày: 18/08/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
Bà Nguyễn Ngọc Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phùng Mai Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 08 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1167/2026/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 391/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 07 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 468/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 07 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh ngày ******/2000
Căn cước số: ************ cấp ngày 21/3/2024
Địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố Hương P, phường Phước T, Thành phố Đồng Nai ( địa chỉ cũ: Tổ A, khu phố Vườn D, phường Phước T, Thành phố Đồng Nai)
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày ******/2000; CCCD: ************ cấp ngày 13/3/2025; địa chỉ thường trú: Khu phố An Quang Tây, xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền ngày 17/4/2026); Số điện thoại: ************ (Như)
- Bị đơn: Ông Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày ******/1999
CCCD số: ************ cấp ngày 05/9/2022
Địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố Hương P, phường Phước T, Thành phố Đồng Nai ( địa chỉ cũ: Tổ A, khu phố Vườn D, phường Phước T, Thành phố Đồng Nai)
(Bà L, ông C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Dương Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị L và ông Đặng Thị Tuyết N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phước Tân, thành phố Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 295 năm 2023 cho đến nay. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hòa thuận, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống giữa hai vợ chồng đã phát sinh quá nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, cả hai đã nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt hơn, không tìm được tiếng nói chung. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân sau nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Dương Thị L yêu cầu Tòa án cho bà Dương Thị L được ly hôn với ông Đặng Thị Tuyết N.
- Về con chung: Có 01 (một) là cháu Đoàn Ngọc Thùy T, sinh ngày ******/2023. Sau khi ly hôn, bà Dương Thị L yêu cầu giao cháu Đoàn Ngọc Thùy T cho bà Dương Thị L trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Về cấp dưỡng, bà Dương Thị L không yêu cầu ông Đặng Thị Tuyết N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Dương Thị L xin tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Đặng Thị Tuyết N nhưng ông Đặng Thị Tuyết N không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị L và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Đặng Thị Tuyết N đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đặng Thị Tuyết N không đến Tòa án làm việc.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Dương Thị L và ông Đặng Thị Tuyết N không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị L. Bà Dương Thị L khai có 01 (một) con chung là Đoàn Ngọc Thùy T, sinh ngày ******/2023, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Dương Thị L xin được trực tiếp nuôi con và tạm thời không yêu cầu ông Đặng Thị Tuyết N phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Đặng Thị Tuyết N không đến Tòa và cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đoàn Ngọc Thùy T cho bà Dương Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Đặng Thị Tuyết N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Dương Thị L khai tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đặng Thị Tuyết N cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Thị L và ông Đặng Thị Tuyết N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Đặng Thị Tuyết N hiện đang sinh sống tại phường Phước T, Thành phố Đồng Nai nên đơn xin ly hôn của bà Dương Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai. Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đặng Thị Tuyết N “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”, “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Đặng Thị Tuyết N vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Đặng Thị Tuyết N đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Đặng Thị Tuyết N cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Đặng Thị Tuyết N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đặng Thị Tuyết N vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đặng Thị Tuyết N theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Dương Thị L là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về nội dung tranh chấp: Bà Dương Thị L yêu cầu ly hôn với ông Đặng Thị Tuyết N. Về con chung bà Dương Thị L khai có 01 (một) con chung là cháu Đoàn Ngọc Thùy T, sinh ngày ******/2023, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Dương Thị L xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời không yêu cầu ông Đặng Thị Tuyết N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung bà Dương Thị L khai không có và bà Dương Thị L cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Đặng Thị Tuyết N đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Đặng Thị Tuyết N không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Dương Thị L và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Đặng Thị Tuyết N và bà Dương Thị L cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông Đặng Thị Tuyết N và bà Dương Thị L đã sống riêng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Dương Thị L và ông Đặng Thị Tuyết N không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Đặng Thị Tuyết N để tiến hành hòa giải nhưng ông Đặng Thị Tuyết N không đến, cho thấy ông Đặng Thị Tuyết N không có thiện chí đoàn tụ với bà Dương Thị L. Do vậy yêu cầu của bà Dương Thị L về việc xin ly hôn với ông Đặng Thị Tuyết N là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Dương Thị L khai có 01 (một) con chung là cháu Đoàn Ngọc Thùy T, sinh ngày ******/2023, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Dương Thị L xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời không yêu cầu ông Đặng Thị Tuyết N phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Đặng Thị Tuyết N đã được Tòa án thông báo và triệu tập nhiều lần nhưng ông Đặng Thị Tuyết N vẫn không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến về vấn đề nuôi con chung và cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Đoàn Ngọc Thùy T cho bà Dương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con do bà Dương Thị L không yêu cầu nên ông Đặng Thị Tuyết N tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Dương Thị L khai không có tài sản chung và ông Đặng Thị Tuyết N không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà Dương Thị L khai không có nợ chung và ông Đặng Thị Tuyết N không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Dương Thị L. Bà Dương Thị L được ly hôn với ông Đặng Thị Tuyết N.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung là cháu Đoàn Ngọc Thùy T, sinh ngày ******/2023. Giao cháu Đoàn Ngọc Thùy T cho bà Dương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Đặng Thị Tuyết N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Đặng Thị Tuyết N được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Dương Thị L khai không có và ông Đặng Thị Tuyết N không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.
4. Về nợ chung: Bà Dương Thị L khai không có và ông Đặng Thị Tuyết N không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung trong vụ án này.
5. Về án phí: Bà Dương Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Dương Thị L đã nộp theo biên lai thu số: 0009906 ngày 29/04/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Nai) Bà Dương Thị L đã nộp đủ án phí.
Bà Dương Thị L và ông Đặng Thị Tuyết N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
| Nơi nhận: -TAND TP. Đồng Nai; -VKSND khu vực 1- Đồng Nai; -VKSND TP. Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án dân sự TP. Đồng Nai;; -Lưu hồ sơ, Vp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Hồng Ngọc |