- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T. Buộc bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thanh T số tiền 5.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 366/2023/DS-ST Ngày: 27-9-2023 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Năm
Ông Nguyễn Việt Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Ngân. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 482/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 392/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Ông T1, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Ông T1, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2023, cũng như lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn thể hiện:
Vào khoảng thời gian năm 2019 đến năm 2020, bà T có tham gia hụi do bà M làm chủ. Sau đó, bà M tuyên bố đình hụi. Ngày 22/01/2021, bà M viết tờ cam kết thừa nhận nợ bà T tổng cộng 97.000.000 đồng. Sau đó, bà M trả cho bà T được số tiền 88.000.000 đồng, còn lại 9.000.000 đồng bà M xin bớt 4.000.000 đồng, trả thêm 5.000.000 đồng nữa là dứt nợ và có ký nhận nợ cho bà T, bà T đồng ý bớt 4.000.000 đồng, nhưng đến nay bà M vẫn không thanh toán số tiền còn lại. Do vậy, bà T khởi kiện yêu cầu bà M trả cho bà T số tiền nợ hụi còn lại là 5.000.000 đồng.
Đối với bà Nguyễn Thị M mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo, triệu tập tham gia phiên toà theo quy định nhưng bà Nguyễn Thị M, từ chối nhận các văn bản tố tụng của Toà án, vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thanh T với bà Nguyễn Thị M là tranh chấp hụi. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều tại huyện T nên bà Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bà Nguyễn Thị M, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng bà Nguyễn Thị M vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị M theo quy định.
Về nội dung tranh chấp: Theo nguyên đơn, vào khoảng thời gian năm 2019 đến năm 2020, bà T có tham gia hụi do bà M làm chủ. Sau đó, bà M tuyên bố đình hụi. Ngày 22/01/2021, bà M viết tờ cam kết thừa nhận nợ bà T tổng cộng 97.000.000 đồng. Sau đó, bà M trả cho bà T được số tiền 88.000.000 đồng, còn lại 9.000.000 đồng bà M xin bớt 4.000.000 đồng, trả thêm 5.000.000 đồng nữa là dứt nợ, bà T đồng ý bớt 4.000.000 đồng, nhưng đến nay bà M vẫn không thanh toán số tiền còn lại, việc này bà M có ký nhận nợ cho bà T.
Về phía bị đơn, tòa án đã tiến hành thông báo, triệu tập hợp lệ để bà M tham gia hòa giải, xét xử. Tuy nhiên, bà đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi, không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T. Tuy nhiên, tại biên bản ngày 03/7/2023, về việc người được tống đạt từ chối nhận văn bản tố tụng, bà M yêu cầu bà T rút đơn khởi kiện bà sẽ trả tiền cho bà T. Từ đó, có căn cứ xác định giao dịch giữa các bên được thực hiện như lời trình bày của nguyên đơn là có thật. Bà T khởi kiện yêu cầu bà M trả cho bà T số tiền nợ hụi còn lại là 5.000.000 đồng là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà M có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho bà T nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ Điều 147, điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T. Buộc bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thanh T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Kể từ ngày bà Nguyễn Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án, bà Nguyễn Thị M không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Bà Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí, bà Nguyễn Thanh T có nộp tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại biên lai số 0006915 ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được trả lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, có mặt tính kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - CC.THADS huyện Trần Văn Thời; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huệ |