- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bùi Thị Lệ H khởi kiện UBND thành phố C"
- Tòa quyết gì? I. Áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính:
- Căn cứ chính? Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 11 Thông tư số 07/2013/TT-TTCP Quy định quy trình giải quyết kh…; Điều 114 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 366/2022/HC-PT Ngày 24 - 5 - 2022 V/v khiếu kiện quyết đ nh hành ch nh về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái đ nh cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Th Huyền Vân
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Phan Đức Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Th Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 334/2021/TLPT-HC ngày 07 tháng 6 năm 2021 về việc: “khiếu kiện quyết đ nh hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái đ nh cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành ch nh sơ thẩm số 04/2021/HC-ST ngày 23 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 632/2022/QĐPT-HC ngày 06 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Bùi Th Lệ H, sinh ngày 24/12/1962; (đại diện hộ)
Đ a chỉ: số 92, đường Phạm Nhơn T, tổ 58, Phường 3, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (xin xét xử vắng mặt)
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chủ t ch Ủy ban nhân dân thành phố C. (xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của y ban nhân dân thành phố C: Ông Nguyễn Văn T - Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C. (vắng mặt)
Cùng đ a chỉ: Số 03, đường 30/4, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chủ t ch Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chủ t ch Ủy ban nhân dân thành phố C.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch y ban nhân dân thành phố C: Ông Nguyễn Văn T - Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C. (vắng mặt)
Cùng đ a chỉ: Số 03, đường 30/4, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Bùi Th Lệ H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/01/2020 và các Biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2020, ngày 06/7/2020, người khởi kiện bà Bùi Thị Lệ H (đại diện hộ) trình bày:
Ngày 15/8/2019, Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện công trình xây dựng trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp. Nội dung Quyết đ nh: thu hồi của bà 259,3m2 đất, thuộc một phần thửa đất số 606, tờ bản đồ số 8, Phường 3, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Tiếp theo, ngày 29/8/2019 Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ. Nội dung Quyết đ nh: bồi thường, hỗ trợ cho bà tổng số tiền 1.060.748.456 đồng (như bảng chiết tính kèm theo).
Bà không đồng ý đối với 02 Quyết đ nh này do giá bồi thường không thỏa đáng. Hiện bà vẫn quản lý sử dụng đất b thu hồi và bà cũng chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố C nâng giá bồi thường đối với đất thổ là 20.000.000đ/1m2, đất lâu năm là 15.000.000đ/1m2, bồi thường căn nhà 700.000.000đ, hỗ trợ chi phí di dời 02 mộ đá là 70.000.000đ.
Bà yêu cầu Tòa án hủy các Quyết đ nh sau đây:
- Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc thu hồi đất để thực hiện công trình xây dựng trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp.
- Quyết đ nh 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc bồi thường, hỗ trợ (có kèm theo Bảng chiết tính giá tr bồi thường, hỗ trợ).
Tại Văn bản ý kiến 365/UBND-TNMT ngày 06/3/2020 người bị kiện y ban nhân dân thành phố C, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Chủ tịch y ban nhân dân thành phố C trình bày:
Ngày 15 tháng 8 năm 2019, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà Bùi Th Lệ H để thực hiện Công trình trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Căn cứ pháp luật để thu hồi đất:
+ Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013.
+ Ngh đ nh số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 nãm 2014 của Chính phủ quy đ nh chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
+ Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy đ nh về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đ ch sử dụng đât.
+ Quyết đ nh số 62/QĐ-UBND-NĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của thành phố C.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019, Ủy ban nhân dân thành phố C ban hành Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Bùi Th Lệ H do thu hồi đất để thực hiện Công trình trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, Phường 3, thành phố C là để đền bù những thiệt hại về đất và tài sản trên đất b ảnh hưởng do thu hồi đất để thực hiện dự án với tổng số tiền là 1.060.748.456 đồng (Một tỷ không trăm sáu mươi triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng).
Căn cứ để ban hành Quyết đ nh bồi thường, hỗ trợ:
+ Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013.
+ Ngh đ nh số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy đ nh về bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư khi Nhà nước thu hồi đất.
+ Quyết đ nh số 27/2014/QĐ-UBND ngày 27 tháng 11 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp quy đ nh về bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư khi Nhà nước thu hồi đất trên đ a bàn tỉnh Đồng Tháp.
+ Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngay 15 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc thu hồi đất của hộ bà Bùi Th Lệ H để thực hiện Công trình trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đông Tháp, Phường 3, thành phố C để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
+ Quyết đ nh số 438/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư Công trình trụ sở làm việc Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, Phường 3, thành phố C.
Như vậy: Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C và Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C được thực hiện đúng theo quy đ nh tại Điều 62, 63, 66, 67, 69, 74 và 75 của Luật đất đai năm 2013.
Từ những cơ sở trên, Ủy ban nhân dân thành phố C đề ngh Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C và Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C.
Tại Bản án số 04/2021/HC-ST ngày 23 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào quy định tại Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ vào quy định tại Điều 62, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 74, 83, 86, 89, 90, 91 Luật đất đai 2013; khoản 1 Điều 18, các Điều 27, 28, 30, 31 Luật khiếu nại 2011;
Căn cứ vào quy định tại Chương 3 về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
Căn cứ vào quy định tại các Điều 5, 6, 7, 8, 11, 14, 21 Thông tư số: 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Bác khởi kiện của bà Bùi Thị Lệ H (đại diện hộ) đối với yêu cầu hủy Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 và Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của y ban nhân dân thành phố C.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021 người khởi kiện bà Bùi Th Lệ H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy đ nh từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử phúc thẩm vụ án theo quy đ nh của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Người khởi kiện kháng cáo không cung cấp được tài liệu mới chứng minh đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện kháng cáo có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người b kiện được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính xét xử vắng mặt các đương sự.
Về đối tượng khởi kiện: Bà Bùi Th Lệ H khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019, Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành ch nh năm 2015
Về thẩm quyền: Theo khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành ch nh, người khởi kiện khởi kiện vụ án hành ch nh đối với quyết đ nh trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Về thời hiệu: Ngày 25/12/2019 bà Hoa nộp đơn khởi kiện các quyết đ nh trên là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính
Xét kháng cáo của người khởi kiện bà Bùi Th Lệ H:
Đối với yêu cầu hủy Quyết đ nh 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 về việc thu hồi đất để thực hiện công trình xây dựng trụ sở làm việc Cục thuế tỉnh Đồng Tháp:
Dự án Công trình xây dựng trụ sở làm việc Cục thuế tỉnh Đồng Tháp thuộc trường hợp thu hồi đất ở phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng được quy đ nh tại điểm a khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua danh mục dự án thu hồi đất theo Ngh quyết số 202/2018/NQQ-HĐND ngày 06/12/2018, UBND tỉnh ban hành quyết đ nh số 62/QĐ-UBND và Thông báo số 371/TB-UBND và tổ chức kiểm đếm tài sản, vật kiến trúc và cây trồng hộ bà Hoa và ban hành Quyết đ nh thu hồi đất số 250/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục được quy đi nh tại Điều 67, Điều 69 Luật Đất đai 2013. Thẩm quyền thu hồi của UBND huyện theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai 2013. Do đó, UBND thành phố C thu hồi đất của hộ bà Hoa là đúng quy đ nh pháp luật.
Đối với yêu cầu hủy 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp về việc bồi thường, hỗ trợ:
Theo quy đ nh tại Điều 74 Luật đất đai 2013 thì: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do y ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”
Căn cứ khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai 2013 thì: “ y ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản l đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm gi p y ban nhân dân cấp tỉnh t chức việc ác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản l đất đai cấp tỉnh được thuê t chức có chức năng tư vấn ác định giá đất để tư vấn ác định giá đất cụ thể.
Việc ác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn ác định giá đất, cơ quan quản l đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất em ét trước khi trình y ban nhân dân cùng cấp quyết định.”
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã căn cứ Chứng thư thẩm đ nh giá đất số VL 18/6/351/TS-SVC ngày 29/6/2018 của Công ty TNHH Thẩm đ nh giá Tây Nam để ban hành Quyết đ nh số 266/QĐ-UBND-NĐ ngày 28/8/2019 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để làm cơ sở lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư công trình Trụ sở làm việc Cục thuế tỉnh Đồng Tháp. Theo Phương án số 142/PA- HĐBT,HT&TĐC ngày 05/8/2019 về bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư Công trình Cục Thuế Tỉnh của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư thành phố C (đã được UBND tỉnh Đồng Tháp thống nhất phê duyệt giá đất cụ thể theo Quyết đ nh số 266/QĐ-UBND-NĐ ngày 28/8/2019, đồng thời được UBND thành phố C phê duyệt bằng Quyết đ nh số 438/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ thì giá của đất ở thuộc đường Phạm Nhơn Thuần (đoạn đường Ngô Quyền – đường CMT8) VT2 là 2.520.000đ/1m2, giá đất trồng cây lâu năm KV2-VT1 ngoài 50m là 150.000đ/1m2. Phần đất của bà Hoa b thu hồi đất ở thửa 606, tờ bản đồ số 8 diện tích 149,0 m2 đất ở thuộc đường Phạm Nhơn Thuần (đoạn đường Ngô Quyền – đường CMT8) VT2 (từ 30m-60m), 110,3m2 đất trồng cây lâu năm KV2-VT1 ngoài 50m cho nên việc UBND thành phố C ban hành Quyết đ nh 521 để bồi thường cho bà Hoa 1.060.748.456 đồng trong đó có bồi thường về tài sản là nhà, cây trồng, hỗ trợ ổn đ nh đời sống và các hỗ trợ khác là đúng với quy đ nh tại khoản 2 Điều 74, 83, 89, 90, 91 Luật đất đai 2013.
Đối với nhà ở và vật kiến trúc của bà Hoa theo bảng chiết tính bồi thường là 505.031.956 đồng và chi phí di dời mộ đá quét vôi giá 25.000.000đ/01 ngôi mộ mà UBND đã bồi thường là áp dụng đúng quy đ nh tại Phụ lục số 1, Phụ lục số 5 bảng giá nhà ở, vật kiến trúc ban hành kèm theo Quyết đ nh số 05/2019/QĐ-UBND ngày 26/2/2019 của UBND tỉnh Đồng Tháp quy đ nh về giá nhà và vật kiến trúc xây dựng trên đ a bàn tỉnh Đồng Tháp. Bà Hoa không có gì chứng minh cho giá tr đất, giá tr căn nhà, vật kiến trúc và chi phí di dời mộ cao hơn giá quy đ nh nên kháng cáo không có cơ sở.
Đối với yêu cầu nền tái đ nh cư: theo Văn bản ý kiến số 553/UBND-TNMT ngày 22/3/2021 của UBND thành phố C, cũng như bảng chiết tính giá tr bồi thường, hỗ trợ kèm theo Phương án số 142/PA-HĐBTHT&TĐC thì đất của ông Võ Văn Hùng và bà Bùi Th Thu Hương b thu hồi ở VT1 30m đầu khả năng sinh lợi cao, còn đất của bà Hoa b thu hồi ở VT2 từ 30m-60m khả năng sinh lợi thấp, cho nên để tạo sự công bằng trong tái đ nh cư UBND đã bố trí cho hộ bà Hoa theo Quyết đ nh số 193/QĐ-UBND với diện tích là 69,7m2 (4,2mx16,6m) thuộc thửa 173, tờ bản đồ số 21, trục đường 5,5 mét tại khu dân cư Phường 3, thành phố C khác với bố tr tái đ nh cư cho hộ ông Hùng 75,6m2 (4,2mx18m) là đúng với khoản 2, khoản 6 Điều 22 Quyết đ nh số 27/2014/QĐ-UBND ngày 27/11/2014 của UBND Tỉnh quy đ nh về bồi thường, hỗ trợ và tái đ nh cư khi Nhà nước thu hồi đất trên đ a bàn tỉnh Đồng Tháp, khoản 2 Điều 86 Luật đất đai năm 2013 quy đ nh tái đ nh cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở.
Do vậy: Quyết đ nh số 250 về thu hồi đất và Quyết đ nh số 521 về bồi thường hỗ trợ, Quyết đ nh số 193 về giao đất tái đ nh cư cũng như Văn bản số 43 với nội dung: không có cơ sở xem xét nâng giá bồi thường đất ở, đất trồng cây lâu năm, giá nhà và cấp nền tái đ nh cư 4,2m x 18m đối với bà Bùi Th Lệ H là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.
Tuy Văn bản số 43 có vi phạm về thẩm quyền, trình tự thủ tục nhưng đúng về nội dung và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự nên khởi kiện của bà Bùi Th Lệ H yêu cầu hủy Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019, Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của Uỷ ban nhân dân thành phố C là không có căn cứ chấp nhận.
Người khởi kiện kháng cáo nhưng không có tài liệu chứng cứ mới nên không có cơ sở xem xét. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện giữ nguyên các quyết đ nh của bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Bà Bùi Th Lệ H phải ch u 300.000 đồng án phí theo quy đ nh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Th Lệ H
- Giữ nguyên quyết đ nh Bản án hành chính sơ thẩm:
Căn cứ vào quy đ nh tại Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ vào quy đ nh tại Điều 62, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 74, 83, 86, 89, 90, 91 Luật đất đai 2013; khoản 1 Điều 18, các Điều 27, 28, 30, 31 Luật khiếu nại 2011;
Căn cứ vào quy đ nh tại Chương 3 về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Ngh đ nh 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy đ nh chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
Căn cứ vào quy đ nh tại các Điều 5, 6, 7, 8, 11, 14, 21 Thông tư số: 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy đ nh quy trình giải quyết khiếu nại hành ch nh; Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy đ nh về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đ ch sử dụng, thu hồi đất;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Th Lệ H (đại diện hộ) đối với yêu cầu hủy Quyết đ nh số 250/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 và Quyết đ nh số 521/QĐ-UBND ngày 29/8/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố C.
II. Các phần khác của bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
III. Về án phí phúc thẩm: Bà Bùi Th Lệ H phải ch u 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0006164 ngày 06/5/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. (Xác nhận bà Hoa đã nộp đủ).
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp; - Đương sự (3); - Lưu: HS, VP. (16) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huyền Vân |