- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chống ngƣời thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 366/2021/HS-ST Ngày 08-12-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thế Duy.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Kiểm sát viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Dƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 303/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 380/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 217/2021/QĐST-HS ngày 09/11/2021 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Thanh Hóa; thƣờng trú: Làng N xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 69 ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L, sinh năm 1950 và bà Lê Thị N, sinh năm 1960; vợ tên Phạm Thị H, sinh năm 1990; có 01 con sinh năm 2012; có 01 anh sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 36/2016/HSST, ngày 27/5/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2018, nộp án phí ngày 20/7/2016. Bị bắt tạm giam ngày 18/6/2021, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Công an tỉnh B; trụ sở: Số 3, đƣờng Yersin, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Anh K, chức vụ: Trƣởng phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh B, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 25/8/2021). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Công ty Trách nhiệm hữu hạn D; địa chỉ: Số 207, đƣờng 20, ấp H xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Tiến Đ, 1989; địa chỉ: 207-khu B, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/6/2021). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3/ Anh Nguyễn Quyết T, sinh năm 1994; thƣờng trú: xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1/ Anh Vũ Văn T;
2/ Anh Lƣu Văn V;
3/ Anh Trần Trung K;
4/ Anh Hoàng Anh V;
5/ Chị Thị Y;
6/ Anh Lê Văn T.
Tất cả ngƣời làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trần Văn T là tài xế của Công ty Công ty TNHH D thuộc Khu công nghiệp G, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 02 tháng 6 năm 2021.
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 16/6/2021, Trần Văn T đƣợc Công ty TNHH D điều động lái xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA, màu xám đen, biển số 60LD-028.91 đi giao giày mẫu cho công ty TNHH S tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên T rủ em họ của T là anh Vũ Văn T1 đi cùng. Sau đó, T điều khiển xe ô tô, biển số 60LD-028.91 chở anh T1 đến Công ty TNHH S để giao giày mẫu nhƣng do Công ty TNHH S hết giờ làm việc nên T điều khiển xe ô tô chở anh T quay về thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô, biển số 60LD-028.91 lƣu thông trên đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng (hƣớng thành phố T về hƣớng thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng). Khi đến giao lộ giữa đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng và đƣờng 22/12 thuộc phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Đây là đoạn đƣờng có biển báo hiệu giao thông “Cấm rẽ trái từ 16 giờ đến 18 giờ” nhƣng T không chấp hành biển báo hiệu giao thông mà điều khiển cho xe rẽ trái vào đƣờng 22/12 để chở T1 đi về phòng trọ tại khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Cảnh sát giao thông thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng gồm: Anh Lƣơng Văn V - Tổ trƣởng, cùng các tổ viên là anh Hoàng Anh V, anh Trần Trung K và anh Nguyễn Quyết T đang làm nhiệm vụ điều tiết giao thông nên đã ra hiệu lệnh yêu cầu T dừng xe để kiểm tra nhƣng T không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga bỏ chạy về hƣớng vòng xoay A1, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Nguyễn Quyết T điều khiển xe mô tô, biển số 61A1-000.45, anh Trần Trung K điều khiển xe mô tô, biển số 61A-001.01 chở anh Hoàng Anh V truy đuổi xe ô tô biển số 60LD-028.91 đến gần khu vực vòng xoay A1. Lúc này, xe mô tô biển số 61A-001.01 do anh K điều khiển chạy vƣợt lên song song với xe ô tô của T, anh V ngồi phía sau ra hiệu lệnh dừng xe nhƣng T không chấp hành hiệu lệnh mà tiếp tục điều khiển xe ô tô sang bên trái chèn ép xe mô tô do anh K điều khiển, rồi điều khiển xe ô tô quay lại chạy trên đƣờng 22/12 hƣớng về Đại lộ Bình Dƣơng. Các anh T, K và V tiếp tục truy đuổi xe ô tô biển số 60LD-028.91 đồng thời gọi bộ đàm cho anh V - Tổ trƣởng bố trí lực lƣợng chốt chặn tại giao lộ ngã tƣ giữa đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng và đƣờng 22/12 thuộc phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi T điều khiển xe ô tô đến vị trí chốt chặn, anh V tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra nhƣng T không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga, vƣợt chốt chặn, bỏ chạy trên đƣờng Đại lộ Bình Dƣơng rồi rẽ trái vào khu công nghiệp VISIP I, thành phố Thuận An, tiếp tục bỏ chạy trên các tuyến đƣờng trong Khu công nghiệp VISIP I và Khu công nghiệp Sóng Thần, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Các anh Th, anh K và anh V tiếp tục điều khiển xe mô tô để truy đuổi theo xe ô tô do T điều khiển tổng quãng đƣờng khoảng 30 (ba mƣơi) km.
Đến đoạn đƣờng ĐT 743 thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, anh Th điều khiển xe mô tô biển số 61A1-000.45 vƣợt lên phía bên trái của xe ô tô biển số 60LD-028.91 và ra hiệu lệnh cho T dừng xe để kiểm tra nhƣng T điều khiển xe ô tô sang bên trái chèn ép xe mô tô biển số 61A1-000.45 do anh Th điều khiển làm xe mô tô bị ngã nghiêng bên trái gây hƣ hỏng nhẹ. Anh Th dựng xe lên rồi tiếp tục cùng anh K, anh V truy đuổi theo xe ô tô do T điều khiển. Do phƣơng tiện tham gia giao thông đông nên anh Th liền điều khiển xe mô tô biển số 61A1-000.45 vƣợt lên phía trƣớc bên trái xe ô tô biển số 60LD-028.91 và tiếp tục ra hiệu lệnh yêu cầu T dừng xe nhƣng T tiếp tục không chấp hành hiệu lệnh mà điều khiển xe ô tô chèn ép xe mô tô biển số 61A1-000.45, làm hông bên trái của xe ô tô biển số 60LD-028.91 va vào phía bên phải xe mô tô biển số 61A1-000.45, khiến anh Th bị ngã phía trƣớc đầu xe container biển số 51C-224.16, còn xe mô tô biển số 61A1-000.45 bị trƣợt lao vào gầm trƣớc xe container biển số 51C-224.16. T tiếp tục điều khiển xe ô tô biển số 60LD-028.91 bỏ chạy đến đƣờng M-T, thuộc phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng đuổi kịp, chặn đƣợc xe và đƣa T cùng xe ô tô biển số 60LD-028.91 về trụ sở Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để làm việc. Do bức xúc với hành vi chống ngƣời thi hành công vụ của Trần Văn T nên nhiều ngƣời dân (không xác định đƣợc nhân thân) có mặt tại hiện trƣờng đã đập phá xe ô tô, biển số 60LD-028.91 của Trần Văn T gây hƣ hỏng.
Ngày 16/6/2021, Công an phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng gửi hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Văn T đến Trung tâm y tế thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Kết quả của Trung tâm y tế thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xác định: Trần Văn T có nghiện ma túy và tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.
Vật chứng:
- 01 (một) USB hiệu Hoco màu đen, dung lƣợng 16GB chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ án.
- Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA, màu xám đen, số khung: 3EM9J3361731, số máy: 1TRA563126, biển số 60LD-028.91.
- Xe mô tô đặc chủng nhãn hiệu HONDA màu trắng, số khung: MC305008164, số máy: MC24E3109446, biển số 61A1-000.45.
- 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T.
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn T.
Kết luận định giá tài sản số 2999/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng:
+ Giá trị tài sản tƣơng tự với xe ô tô, biển số 60LD-028.91 tại thời điểm ngày 16/6/2021 trƣớc khi xảy ra va chạm, bị hƣ hỏng là 550.000.000 đồng (năm trăm năm mƣơi triệu đồng).
+ Giá trị thiệt hại (chi phí sửa chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầu) của xe ô tô, biển số 60LD-028.91 tại thời điểm ngày 16/6/2021 là 40.400.000 đồng (bốn mƣơi triệu bốn trăm ngàn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 3001/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dƣơng:
+ Giá trị tài sản tƣơng tự với xe mô tô, biển số 61A1-000.45 tại thời điểm ngày 16/6/2021 trƣớc khi xảy ra va chạm, bị hƣ hỏng là 112.500.000 đồng (một trăm mƣời hai triệu năm trăm ngàn đồng).
+ Giá trị thiệt hại (chi phí sửa chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầu) của xe mô tô, biển số 61A1-000.45 là 18.475.000 đồng (mƣời tám triệu bốn trăm bảy mƣơi lăm ngàn đồng).
Đối với thƣơng tích do bị ngã xe khi truy đuổi bị cáo Trần Văn T, anh Nguyễn Quyết T có đơn từ chối giám định thƣơng tích nên không xem xét.
Đối với anh Võ Văn T1 đi trên xe cùng với bị cáo Trần Văn T, quá trình xảy ra sự việc anh T1 có khuyên T dừng xe theo yêu cầu của lực lƣợng Cảnh sát giao thông nhƣng T không nghe, anh T1 không kêu T bỏ chạy hay chỉ đƣờng cho T bỏ chạy nên không có căn cứ xử lý đối với anh T1.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSBD-P2 ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chống ngƣời thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e, n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng cho Công an tỉnh Bình Dƣơng thiệt hại xe mô tô biển số 61A1-000.45 là 18.475.000 đồng.
Biện pháp tƣ pháp: Đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Văn T Giấy chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe hạng C tên Trần Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Tiến Đức và anh Nguyễn Quyết Thắng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định đƣợc: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/6/2021, Trần Văn T đã có hành vi không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của lực lƣợng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng khi đang làm nhiệm vụ điều tiết giao thông. Bị cáo Trần Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA, biển số 60LD-028.91 bỏ chạy trên nhiều tuyến đƣờng thuộc địa bàn thành phố T và thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vƣợt chốt kiểm tra, chèn ép xe mô tô đặc chủng của lực lƣợng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng đang làm nhiệm vụ nhằm cản trở lực lƣợng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dƣơng thực hiện công vụ, đủ yếu tố cấu thành tội Chống ngƣời thi hành công vụ quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 88/CT-VKSBD-P2 ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Chống ngƣời thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhƣng đã xâm phạm đến hoạt động bình thƣờng, đúng đắn của các cơ quan Nhà nƣớc trong lĩnh vực quản lý hành chính làm giảm hiệu lực quản lý của các cơ quan Nhà nƣớc. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi điều khiển xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh của lực lƣợng cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ là vi phạm pháp luật, cản trở việc thực hiện công vụ nhƣng vì sợ bị phạt, sợ bị Công ty đuổi việc bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là “Cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng” và “dùng phƣơng tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều ngƣời để phạm tội” theo quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự thể hiện ở việc bị cáo sử dụng xe ô tô chống lại hiệu lệnh của lực lƣợng cảnh sát giao thông trên nhiều tuyến đƣờng từ thành phố Thuận An sang thành phố D vào lúc 17 giờ 30 phút là thời điểm đông ngƣời tham gia giao thông qua lại, có thể gây tai nạn nguy hiểm tính mạng cho nhiều ngƣời.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình tham gia bộ đội bị cáo đƣợc Trung đoàn Bộ binh 3 tặng Giấy khen vì có nhiều thành tích trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2010. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, nghiện ma túy, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn Bộ binh 3; đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thƣờng pháp luật, gây tâm lý lo lắng bức xúc trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội đồng thời mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại (chi phí sửa chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầu) của xe mô tô, biển số 61A1-000.45 là 18.475.000 đồng là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Quá trình tố tụng, đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền trên.
Đối với thƣơng tích do bị ngã xe khi truy đuổi bị cáo Trần Văn T, anh Nguyễn Quyết T có đơn từ chối giám định thƣơng tích và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA, màu xám đen, số khung: 3EM9J3361731, số máy: 1TRA563126, biển số 60LD-028.91, do chƣa xác định đƣợc ai là ngƣời gây ra thiệt hại và Công ty TNHH DongShin Việt Nam không có yêu cầu bồi thƣờng nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Biện pháp tƣ pháp: Xét Giấy chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe hạng C tên Trần Văn T là tƣ vật của bị cáo, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với anh Võ Văn T1 đi trên xe cùng với bị cáo Trần Văn T, quá trình xảy ra sự việc anh T1 có khuyên T dừng xe theo yêu cầu của lực lƣợng Cảnh sát giao thông nhƣng T không nghe, anh T1 không kêu T bỏ chạy hay chỉ đƣờng cho T bỏ chạy nên không có căn cứ xử lý đối với anh T1.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Chống ngƣời thi hành công vụ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2021.
2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Buộc bị cáo Trần Văn T có trách nhiệm bồi thƣờng cho Công an tỉnh Bình Dƣơng số tiền 18.475.000 (mƣời tám triệu bốn trăm bảy mƣơi lăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Biện pháp tự pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 Giấy chứng minh nhân dân và 01 Giấy phép lái xe hạng C tên Trần Văn T (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 923.750 (chín trăm hai mƣơi ba nghìn bảy trăm năm mƣơi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố D (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an thành phố D (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND nơi cƣ trú của bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (03); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |