vanban.org

Bản án 366/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 19/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đăng H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đăng H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 366/2018/HS-PT
Ngày: 19-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Công Bình

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Huờn

2. Ông Trần Duy Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Việt Tiệp - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 344/2018/TLPT-HS ngày 16/10/2018 đối với bị cáo Lê Đăng H về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST, ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Đăng H, sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: sửa chữa điện lạnh; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng K và bà Châu Thị Đ; bị cáo chưa có vợ; tiền sự, tiền án: Không có; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Đinh Xuân Đ, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 19/02/2018, Lê Đăng H, Đinh Xuân Đ, Lương Thị N, Lương Thị V đến quán của bà Trần Thị T ở thôn X, xã P, huyện K, để tổ chức sinh nhật cho Lương Thị N. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, thì cả nhóm ra về, khi đi ra H thấy chiếc bánh sinh nhật để ở xe mô tô của V bị nghiêng, nên đã dùng chân đá văng chiếc bánh xuống đường. Thấy vậy, Đ nói với H “Như vậy có sao đâu, có gì nói sao lại vứt bánh kem đi”, thì H và Đ cãi nhau một lúc rồi xông vào đánh nhau, Đ dùng tay đấm vào mặt H một cái trúng mũi, thì được mọi người can ngăn nên cả hai không đánh nhau nữa, lúc này H chạy đến xe máy của mình và mở cốp xe lấy một con dao (loại dao bầu dùng để thịt heo) chạy đến chỗ Đ đang ngồi trên xe chuẩn bị đi và chém 02 nhát vào trán phải và mặt của Đ. Bị chém, Đ chạy đến nhà ông T gần đó để trốn, H đuổi theo để đánh nhưng được mọi người can ngăn nên không đuổi đánh Đ nữa. Sau đó H và V đưa Đ đến bệnh viện Đa khoa huyện K cấp cứu, rồi chuyển đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ điều trị. Đến ngày 21/02/2018 Lê Đăng H đến bệnh viện đa khoa TH để điều trị vết thương do bị Đ đánh.

Tại Kết luận pháp y thương tích số 466/PY-TgT ngày 03/4/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Đinh Xuân Đ bị đa thương, vỡ bản ngoài sọ và sẹo vùng mặt ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tỷ lệ thương tích 30%. Vật tác động: Sắc bén.

Tại Kết luận pháp y thương tích số 626/PY-TgT ngày 17/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Lê Đăng H bị gãy xương chính mũi, tỷ lệ thương tích 09 %, vật tác động: Cứng tày.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đăng H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/9/2018, bị cáo Lê Đăng H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Đăng H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận: Thương tích của anh Đinh Xuân Đ là do bị cáo gây ra, nhưng nguyên nhân là do anh Đ cãi nhau với bị cáo và dùng tay đấm vào mặt bị cáo làm chảy máu mũi, nên bị cáo bực tức và đã lấy con dao ở cốp xe máy ra để dọa anh Đ và sau đó lỡ tay gây thương tích cho anh Đ.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Đăng H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ và đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự và mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng và tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết xin giảm nhẹ nào mới. Do đó kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ chấp nhận,

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Đăng H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, xử phạt bị cáo Lê Đăng H 03 năm 06 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo trình bày ý kiến cho rằng mức án mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là quá cao, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Lê Đăng H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào tối ngày 19/02/2018, tại quán của bà Trần Thị T ở thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, giữa bị cáo Lê Đăng H và anh Đinh Xuân Đ có xảy ra mâu thuẫn và xô sát với nhau, anh Đinh Xuân Đ dùng tay đấm vào mặt bị cáo, bị cáo bực tức vì bị đánh nên đã lấy dao bầu chém vào trán và mặt anh Đinh Xuân Đ, gây thương tích. Bị cáo đã dùng dao, là loại hung khí nguy hiểm chém anh Đinh Xuân Đ, hậu quả làm cho anh Đ bị thương tích với tỷ lệ là 30%. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Đăng H về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Đăng H, Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an chung của xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra; mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ là: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại; người bị hại cũng có lỗi đã đánh bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, là không có cơ sở chấp nhận và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Như vậy mới đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt và để đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Đăng H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đăng H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Đăng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ