- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L-T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn anh Nguyễn Xuân Tr.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 365/2024/HNGĐ-ST Ngày 13/9/2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình“ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Sáng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuật, bà Phùng Thị Chiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải- Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Diệu L, sinh năm 1993 (Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Tân Phong, xã Phong Vân, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ngô Thị Diệu L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân Tr kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Vân, huyện Ba Vì. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Tân Phong, xã Phong Vân, huyện Ba Vì. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được hai tháng đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị đã nhiều lần bị anh Tr bạo hành, không chịu được cuộc sống như vậy, chị đã sống ly thân với anh Tr từ đầu tháng 4/2022 đến nay, trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Xuân Tr.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 10/3/2018, cháu hiện đang do anh Tr nuôi dưỡng. Khi Tòa án giải quyết ly hôn, chị nhận nuôi con và yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Nếu anh Tr nhận nuôi con, chị đồng ý.
- Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị L xác nhận không có.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Xuân Tr, Toà án không ghi được ý kiến của anh Tr về yêu cầu khởi kiện của chị L với lý do: Toà án đã nhiều lần triệu tập anh Tr đến Toà án làm việc nhưng anh Tr không chấp hành. Ngày 15/8/2024, TAND huyện Ba Vì cùng UBND xã Phong Vân đến nơi cư trú của anh Tr để lấy lời khai ghi ý kiến của anh Tr về yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh Tr vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã phối hợp với chính quyền địa phương xã Phong Vân, huyện Ba Vì tiến hành làm việc với bà Lê Thị Tập – Là mẹ đẻ anh Nguyễn Xuân Tr. Tại biên bản ghi lời khai ngày 15/8/2024, bà Tập cho biết: Anh Nguyễn Xuân Tr là con trai bà, anh Tr và chị Ngô Thị Diệu L cưới nhau có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Phong Vân, huyện Ba Vì. Sau khi kết hôn, hai anh chị sống hạnh phúc với nhau đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị L chơi bời, gia đình đã hòa giải, khuyên bảo nhưng không được. Hai anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay chị L xin ly hôn với anh Tr bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết dứt điểm vụ việc theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng chị L và anh Tr có một con chung là cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 10/3/2018, hiện đang do anh Tr nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị L và anh Tr không có tài sản chung
- Về nợ chung: Chị L và anh Tr có nợ chung nhưng nợ ai, nợ cụ thể số tiền bao nhiêu thì bà không biết.
Ngoài ra, bà Lê Thị Tập còn cho biết thêm: Gia đình bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần nhận được giấy triệu tập của Tòa án đối với con bà. Sau khi nhận được những giấy tờ trên, bà đã trực tiếp giao thông báo và giấy triệu tập cho anh Tr. Anh Tr nói với bà “cứ để đấy, con còn phải đi làm”, sau đó anh Tr có đến làm việc với Tòa án hay không thì bà không biết.
* Tại phiên tòa, chị Ngô Thị Diệu L có ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Tr đã hết, chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Tr.
- Về con chung: Chị L xin nhận nuôi con và rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Chị L xác nhận không có.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Ngô Thị Diệu L được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Tr.
- Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82, 83 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 10/3/2018 cho chị Ngô Thị Diệu L nuôi dưỡng đến khi cháu C đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác thay đổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Tr cho đến khi có quyết định khác thay đổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L khai là không có, anh Tr vắng mặt nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu giải quyết quan hệ: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn đăng ký hộ khẩu thưởng trú trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Do vậy Toà án nhân dân huyện Ba Vì thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
1.2. Về Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn là anh Nguyễn Xuân Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 19/9/2024, Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2024. Quyết định này đã được tống đạt hợp lệ, tại phiên tòa hôm nay, anh Tr tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
21. Về tính hợp pháp của hôn nhân: Chị Ngô Thị Diệu L và anh Nguyễn Xuân Tr kết hôn tự nguyện, có đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Vân, huyện Ba Vì ngày 12/5/2017. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được xác định là hôn nhân hợp pháp.
2.2. Về mâu thuẫn vợ chồng:
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị L trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm và bị anh Tr bạo hành. Theo như bà Tập cung cấp thông tin là do chị L chơi bời, gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng giữa hai anh chị không cải thiện, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ cuối tháng 4/2022 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Tr đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận cho chị Ngô Thị Diệu L được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Tr là phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
2.3. Về con chung:
Chị Ngô Thị Diệu L và anh Nguyễn Xuân Tr có một con chung là cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 10/3/2018. Hiện tại cháu C đang do anh Tr nuôi dưỡng. Chị L nhận nuôi con và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Tập là mẹ anh Tr đề nghị Tòa án giao cháu C cho anh Tr nuôi dưỡng và yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc chăm sóc nuôi dưỡng, con chung là trách nhiệm của cha mẹ, việc chị L xin nhận nuôi con là chính đáng, anh Tr vắng mặt không thể hiện quan điểm về con chung. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn giao cháu Nguyễn Mạnh C cho chị Ngô Thị Diệu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
2.4. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Tr cho đến khi có quyết định khách thay đổi.
2.5. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị Ngô Thị Diệu L khai là không có, anh Tr vắng mặt không thể hiện quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Khi nào anh Tr có yêu cầu giải quyết nội dung này thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí:
- Chị Ngô Thị Diệu L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các điều 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn anh Nguyễn Xuân Tr. Chị Ngô Thị Diệu L được ly hôn anh Nguyễn Xuân Tr.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 10/3/2018 cho chị Ngô Thị Diệu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu C đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác thay đổi. Sau khi ly hôn, anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Xuân Tr cho đến khi có quyết định khác thay đổi.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị Diệu L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ngày 01/4/2024 theo biên lai số 0014052.
5. Quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Diệu L có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Xuân Tr có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - UBND xã Phong Vân, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Đình Sáng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Sáng |