- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế A cùng đồng phạm, phạm tội trộm cắp tài sản; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 365/2022/HS-ST Ngày 08- 12- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 304/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thế A (tên gọi khác B), sinh năm 1995 tại tỉnh Hưng Yên; thường trú: Thôn T, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết), và bà Trần Thị Â, sinh năm: 1973; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/01/2013, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (Bản án số 05/2013/HSST), ngày 24/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố D (thị xã D cũ), tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 119/2017/HSST), ngày 14/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 211/2018/HS-ST). Bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2022, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Đắc V, sinh năm 1988 tại tỉnh Hải Dương; thường trú: xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng S (đã chết) và bà Vũ Thị L, sinh năm: 1950; có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1990; có vợ tên Hồ Thị Lệ T, sinh năm 1987; có 02 con, lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án số 134/2020/HSST), tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/5/2018, Công an phường B, thành phố T (thị xã T cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội số 657/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng; ngày 18/02/2019, Công an phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 750.000 đồng. Bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2022, có mặt tại phiên tòa.
3. Huỳnh Di T, sinh năm 1988 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Kim C, sinh năm: 1970; có 01 em, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/10/2019, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 201/2019/HS-ST); ngày 25/8/2018, Công an phường Thuận Giao, thành phố Thuận An (thị xã Thuận An cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội số 972/QĐ-XPVPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 750.000 đồng. Bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2022, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Thị B, sinh năm 1985 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; thường trú: Khối phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1969 và bà Hồ Thị B, sinh năm: 1969; có 04 em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2000; có chồng tên Phạm Quốc N, sinh năm 1983; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2022, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1986; trú tại: Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Trần Quốc V, sinh năm 1999; trú tại: Khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
3. Nguyễn Xuân H, sinh năm 1995; thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
4. Vũ Duy T, sinh năm 1999; trú tại: Tổ 15, khu phố Chiêu Liêu, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
5. Trần Châu T, sinh năm 1978; trú tại: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
6. Tăng Quang L, sinh năm 2001; trú tại: Tổ A1 khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
7. Nguyễn Duy S, sinh năm 1991; trú tại: Tổ A1 khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
8. Trần Hoài P, sinh năm 1995; trú tại: khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
9. Hứa Phương N, sinh năm 1996; trú tại: khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
10. Lê Thị T, sinh năm 1990; trú tại: khu phố 2, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bùi Thúy V, sinh năm 1976; thường trú: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Nguyễn Thiên B, sinh năm 1985; thường trú: khu phố 3, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế A và Nguyễn Thị B sinh sống chung với nhau tại phòng trọ thuộc khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Nguyễn Đắc V và Huỳnh Di T là bạn bè quen biết với Thế A và B. Thế A cùng đồng phạm đã lấy trộm tài sản, cụ thể đã thực hiện các vụ như sau:
Vụ 01: Khoảng 09 giờ ngày 01/6/2022, Nguyễn Thế A đi bộ trên các tuyến đường thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Thế A đi đến phía trước nhà không số thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D của anh Nguyễn Văn S. Thế A dùng kìm cộng lực cắt phá khóa cổng, khóa cửa nhà lén lút vào bên trong lấy trộm 01 máy laptop hiệu HP màu xám và các giấy tờ hộ khẩu, giấy tờ tùy thân của anh S. Thế A đưa chiếc máy laptop hiệu HP màu xám cho Nguyễn Thị B mang đi bán và Thế A có nói cho B về việc tìm tài sản để lấy trộm, B mang máy laptop hiệu HP đến cửa hàng mua bán máy tính Thiên Bảo, địa chỉ khu phố 3, phường A, Thành phố T, bán cho anh Nguyễn Thiên B, với giá 500.000 đồng, Thế A và B đã tiêu xài hết.
Tại Biên bản và kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố D ngày 25/7/2022, kết luận: 01 máy vi tính xách tay (Laptop) hiệu HP Pavilion, màu xám, sản xuất năm 2018, trị giá 5.000.000 đồng.
Vụ 2: Khoảng 02 giờ ngày 10/6/2022, Thế A cùng Nguyễn Đắc V, Nguyễn Di T và B, Đ (chưa rõ nhân thân, lại lịch) dùng kìm cộng lực cắt khóa cổng đột nhập vào dãy nhà trọ, địa chỉ khu phố C, phường T, thành phố D. Sau đó cả nhóm dùng đoản bẻ khóa xe lấy trộm 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Vario, biển số 32BI 464.50 của anh Trần Quốc V, 01 chiếc xe mô tô hiệu SYM Elegant, biển số 38C1–186.34 của anh Nguyễn Xuân H, dựng trước hành lang dãy trọ mang về phòng của V cất giấu. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Thế A và B quay lại khu nhà trọ trên lấy trộm thêm 01 xe mô tô Honda Wave, biển số 29N1-734.48 của anh Vũ Duy T, dựng tại hành lang dãy nhà trọ, Thế A cùng B, tháo biển số và đưa xe cho V để bán. Sau đó, V đưa chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 92B1-464.50 cho D (chưa rõ lai lịch) mang đi bán được 7.000.000 đồng, chiếc xe mô tô hiệu SYM Elegant, biển số 38C1- 186.34 B lấy sử dụng làm phương tiện đi lại, chiếc xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 29N1–734.48 V đưa D bán được 6.000.000 đồng, số tiền trên cả nhóm cùng nhau tiêu xài hết.
Tại Biên bản kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố D ngày 25/7/2022, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Vario, màu sơn trắng đen, số khung 5117LK676414, số máy JM51B1676183, biển số 92B1-464.50 (sử dụng tháng 11/2020) trị giá 40.000.000 đồng; 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu sơn đen trắng, số khung 10MHEH040451, số máy MSACEH040451, biển số 38C1-186.34 (sử dụng tháng 10/2015) trị giá 6.000.000 đồng; 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, số khung 3912KY069405, số máy JA39E0925582, biển số 29N1-734.48 (sử dụng tháng 4/2019) trị giá 10.000.000 đồng.
Vụ 3: Khoảng 03 giờ ngày 17/6/2022. Thế A cùng V và H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) dùng kìm cộng lực cắt phá khóa cửa căn ki ốt tại địa chỉ không rõ thuộc phường B, Thành phố T, lấy trộm 01 xe môtô nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh, biển số 43X3-8052 của chị Bùi Thuý V, đang gửi tại tiệm sửa xe của anh Trần Châu T và mang xe về nhà trọ của Thế A tại tổ 34, khu phố C, phường T, thành phố D, Thế A gắn biển số 29N1–734.48 vào chiếc xe môtô nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh, sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 18/06/2022, V mang xe môtô nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh gắn biển số 29N1– 734.48 về phòng trọ của V để sử dụng. Ngày 20/06/2022, lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ của V, thu giữ chiếc xe môtô nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh gắn biển số 29N1–734.48.
Tại Biên bản và kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản thành phố D, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh, trị giá 7.000.000 đồng.
Vụ 4: Khoảng 12 giờ ngày 15/6/2022, Thế A điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) và dùng kìm cộng lực cắt phá khóa cửa phòng trọ của anh Tăng Quang L, tại địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố D, sau đó Thế A chạy xe về nhà trọ chở Nguyễn Thị B đến lấy trộm tài sản. Khi đến nơi B ngồi trên xe cảnh giới, Thế A đi vào mở cửa phòng trọ của anh L lén lút chiếm đoạt chiếc xe môtô hiệu Wayec, biển số 69C1–112.67 dắt ra ngoài đường và cùng B về phòng trọ. Thế A mang chiếc xe môtô hiệu Wayec biển số 69C1–112.67 bán cho người tên Tr (chưa rõ nhân thân, lai lịch) được 1.000.000 đồng, số tiền trên Thế A và B tiêu xài hết.
Tại Biên bản và kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố D ngày 25/7/2022, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Wayec, kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ đen bạc, số khung H, số máy JA39E0925582, biển số 69C1–112.67 trị giá 4.000.000 đồng.
Vụ 5: Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2022, Thế A và Nguyễn Thị B đang ở nhà trọ, Thế A rủ B đi trộm cắp tài sản. Thế A chở B bằng xe mô tô (không rõ biển số) đi đến dãy trọ nhà trọ địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố D, B ngồi trên xe ở bên ngoài cảnh giới, Thế A đi vào dùng kìm cộng lực cắt khóa mở cửa phòng trọ của anh Nguyễn Duy S và đi vào bên trong tìm tài sản chiếm đoạt, gồm: 01 chiếc tivi hiệu LED Mobell 32W600A 32inch mang ra ngoài đường, Thế A đưa chiếc tivi cho B giữ rồi điều khiển xe máy chở B về phòng trọ. B mang chiếc tivi bán cho người đàn ông mua ve chai (chưa rõ nhân thân, lai lịch) được 900.000 đồng, Thế A và B tiêu xài hết.
Tại Biên bản và kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố D ngày 25/7/2022, kết luận: Tivi Led hiệu Mobell 32W600A, màu đen, 32 inch trị giá 2.700.000 đồng.
Vụ 6: Khoảng 12 giờ ngày giữa tháng 6/2022, Thế A và V rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Cả hai chạy xe máy đi vòng quanh trên các tuyến đường thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, cả hai đi đến phía trước dãy nhà trọ địa chỉ Khu phố 3, phường A, thành phố T, nhìn thấy cổng dãy trọ không khóa, nên V ngồi trên xe cảnh giới, Thế A đi vào bên trong dãy nhà trọ tìm tài sản, thấy 01 xe môtô kiểu dáng Wave Alpha màu đỏ đen, không rõ biển số, Thế A dùng đoản bẻ khóa chiếc xe rồi dắt ra ngoài đường và cùng V mang xe môtô về phòng trọ của V cất giấu. Ngày 20/06/2022, lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ của V, thu giữ chiếc xe môtô. Qua xác minh chưa xác định được bị hại.
Vụ 7: Khoảng 05 giờ ngày 19/6/2022, Huỳnh Di T đi bộ trên đường ngang qua khu dân cư Đại Quang nhìn thấy dãy nhà trọ địa chỉkhu phố T1, phường Th, thành phố D, không khóa cổng nên T lén lút đi vào bên trong dãy nhà trọ, đi đến phía trước phòng trọ số 02 của anh Trần Hoài P, T cúi người nhìn qua gầm cửa nhìn thấy bên trong phòng có điện thoại đang sạc pin, T lấy 01 cái móc phơi đồ bẻ thẳng ra một đầu bẻ cong thành móc, rồi T đưa cây móc qua gầm cửa móc lấy trộm chiếc điện thoại OPPO Reno 4 màu xanh của anh P. T đưa chiếc điện thoại này cho đối tượng T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ T bán, nhưng T chưa quay lại đưa tiền cho T.
Tại Biên bản và kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố D ngày 25/7/2022, kết luận: điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh trị giá 2.600.000 đồng.
Vụ 8: Khoảng 00 giờ ngày 19/06/2022, Thế A mang theo 01 cây kìm cộng lực và 01 cây đoản hình chữ L đi bộ từ phòng trọ thuộc khu phố C, phường T, thành phố D, trên các tuyến đường thuộc khu phố C, phường T, thành phố D, để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng hơn 01 giờ cùng ngày, Thế A đi đến phía trước dãy nhà trọ địa chỉ khu phố C, phường T, thành phố D, nhìn thấy cổng dãy trọ không khóa. Thế A lén lút vào bên trong nhìn thấy 01 xe môtô hiệu Suzuki Axelo biển số 66B1– 163.40 của anh Hứa Phương N, dựng ở hành lang dãy trọ không khóa cổ. Thế A dùng cây kìm cộng lực cắt đứt dây khóa ở bánh xe, dùng đoản bẻ ổ khóa xe nhưng không được nên Thế A dắt chiếc xe đi ra ngoài đường, bứt dây điện của xe đấu nối để nổ máy, A chạy đến phòng trọ của V, địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố D. Thế A gặp V, cả hai rủ nhau cùng đi lấy trộm tài sản, A điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở V đi vòng quanh các tuyến đường thuộc phường A, thành phố T, tìm tài sản. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, cả hai đi đến phía trước dãy nhà trọ địa chỉ khu phố 2, phường A, thành phố T, thấy cửa dãy nhà trọ không khóa, V ở bên ngoài cảnh giới, Thế A đi vào bên trong dãy nhà trọ nhìn thấy ở hành lang có dựng 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave RSX, biển số 78EI- 051.05 của chị Lê Thị T và dùng đoản bẻ ổ khóa xe rồi dắt chiếc xe môtô ra ngoài cổng dãy trọ và nổ máy xe chạy đi, Vượng chạy theo sau, cả hai mang chiếc xe biển số 78E1- 051.05 về dãy trọ của V cất giấu, A điều khiển xe mô tô, biển số 66B1– 163.40 đi về phòng trọ tại khu phố C, phường T, thành phố D. Sau đó, V tháo biển số xe 78E1– 051.05 ra để ở trong phòng trọ và đưa chiếc xe môtô hiệu Honda Wave RSX cho D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ bán. Sau khi về phòng trọ Thế A tháo ba ga xe, dè xe, yếm xe và biển số của xe môtô hiệu Suzuki Axelo, biển số 66B1– 163.40 cất giấu trong phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ ngày 19/6/2022, khi Thế A điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Axelo không biển số trên đường, bị lực lượng Công an phường T kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc.
Tại Biên bản và kết luận định giá số 90/KLĐGTS-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An ngày 25/7/2022, kết luận: xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo, màu sơn xanh trắng, số khung 10DO112696, số máy F4CB-112698, biển số 66B1-163.40 (sử dụng tháng 12/2013) trị giá 8.000.000 đồng.
Tại Biên bản và Kết luận định giá ngày 21/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số 78E1-051.05, màu đỏ đen bạc, số khung 4320BY654372, số máy JC43E6428801 (đăng ký lần đầu tháng 02/2012) trị giá 12.000.000 đồng.
Ngày 08/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 356/QĐ-ĐTTH, Quyết định khởi tố bị can số 493, 494 đối với Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T ra Quyết định chuyển vụ án hình sự cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D để xử lý theo quy định.
Về thu giữ và xử lý vật chứng (đã xử lý):
Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Suzuki, số loại Axelo, màu sơn xanh trắng, số khung 10DO112696, số máy F4CB-112698, biển số 66B1-163.40, 01 bộ dàn áo, yếm xe thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xe này thuộc sở hữu của anh Hứa Phương N, đã trả lại xe cho anh N.
Đối với 01 máy vi tính xách tay (Laptop) hiệu HP Pavilion, màu xám và giấy tờ tùy thân thu giữ trong vụ án thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn S, đã trả lại xe cho anh S.
Xe môtô nhãn hiệu Attila Elizabeth màu xanh thu, thuộc sở hữu của chị Bùi Thuý V, đã trả lại xe cho chị V.
Tại cáo trạng số 332/CT–VKS-DA ngày 11 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố về Tội trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A, mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc V, mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Huỳnh Di T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B, mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 biển số xe 29N1-734.48, 01 biển số xe 78E1-051.05, 01 bó dây dù gồm 41 sợi, 01 cây kìm cộng lực, 02 đầu đoản bằng kim loại, 02 ống điếu số 08 thu giữ trong vụ án, liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy.
Những tài sản không thu hồi được và trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Quốc V là chủ sở hữu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Vario, màu sơn trắng đen, số khung 5117LK676414, số máy JM51B1676183, biển số 92B1-464.50 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Nguyễn Di T bồi thường số tiền 40.000.000 đồng.
Anh Nguyễn Xuân H là chủ sở hữu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu sơn đen trắng, số khung 10MHEH040451, số máy MSACEH040451, biển số 38C1-186.34 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Nguyễn Di T bồi thường số tiền 6.000.000 đồng.
Anh Vũ Duy T là chủ sở hữu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, số khung 3912KY069405, số máy JA39E0925582, biển số 29N1-734.48 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.
Anh Tăng Quang L, chủ sở hữu xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Wayec, kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ đen bạc, số khung H, số máy JA39E0925582, biển số 69C1–112.67 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị B bồi thường số tiền 4.000.000 đồng; Thế A và nguyễn Thị B đã bồi thường nên không xem xét.
Anh Nguyễn Duy S là chủ sở hữu của 01 Tivi Led hiệu Mobell 32W600A, màu đen, 32 inch yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị B bồi thường số tiền 2.700.000 đồng.
Trần Hoài P, chủ sở hữu của 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh yêu cầu Huỳnh Di T bồi thường số tiền 2.600.000 đồng.
Chị Lê Thị T, chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số 78E1-051.05, màu đỏ đen bạc, số khung 4320BY654372, số máy JC43E6428801 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V bồi thường số tiền 12.000.000 đồng.
Đối với 01 xe môtô kiểu dáng Wave Alpha màu đỏ đen, không rõ biển số số khung VHLFM152FMHV01122593. Đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ giải quyết. Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã giao xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận, đối đáp gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng không khiếu nại gì. Tại cơ quan điều tra bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Từ 01/6/2022 đến 19/6/2022, Nguyễn Thế A cùng đồng phạm thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố D, thành phố T với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 94.700.000 đồng và không có việc làm ổn định xem đó là nguồn sống chính. Hành vi này của Nguyễn Thế A đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo: Nguyễn Đắc V, Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B cùng Nguyễn Thế A thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Ngày 10/7/2022, Nguyễn Đắc V cùng Nguyễn Thế A lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, biển số 92B1-464.50, trị giá 40.000.000 đồng của anh Trần Quốc V; 01 xe mô tô, biển số 38C1-186.34, trị giá 6.000.000 đồng của anh Nguyễn Xuân H; 01 xe mô tô, biển số 29N1-734.48, trị giá 10.000.000 đồng của anh Vũ Duy T. Ngày 17/6/2022, V cùng với Thế A lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 43X3-8052, trị giá 7.000.000 đồng của chị Bùi Thuý V. Ngày 19/6/2022, V cùng Thế A chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 78E1-051.05, trị giá 12.000.000 đồng của chị Lê Thị T. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 75.000.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Đắc V đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Ngày 10/7/2022, Huỳnh Di T cùng Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 92B1-464.50, trị giá 40.000.000 đồng của anh Trần Quốc V; 01 xe mô tô, biển số 38C1-186.34, trị giá 6.000.000 đồng của anh Nguyễn Xuân H. Ngày 19/6/2022, T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh trị giá 2.600.000 đồng của anh Trần Hoài P. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 48.600.000 đồng.
Hành vi của Huỳnh Di T đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Ngày 01/6/2022, Nguyễn Thế A nói với Nguyễn Thị B đem đi bán 01 máy vi tính xách tay (Laptop) hiệu HP Pavilion, trị giá 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn S. Ngày 15/6/2022, Nguyễn Thị B cùng Nguyễn Thế A lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 69C1–112.67 trị giá 4.000.000 đồng của anh Tăng Quang L. Ngày 16/6/2022, B cùng Thế A lén lút chiếm đoạt 01 Tivi Led hiệu Mobell 32W600A, màu đen, 32 inch trị giá 2.700.000 đồng của anh Nguyễn Duy S. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.700.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Thị B đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 332/CT–VKS ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thế A, bị cáo Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo Nguyễn Đắc V phạm tội 02 lần trở lên và trong trường hợp chưa được xóa án tích.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Nguyễn Thế A và Nguyễn Thị B đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Tăng Quang L, nên được hưởng 01 phần tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu: Nguyễn Thế A, ngày 30/01/2013, Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (Bản án số 05/2013/HSST); ngày 24/5/2017, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ A (thị xã D cũ), tỉnh Bình Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 119/2017/HSST); ngày 14/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 211/2018/HS-ST). Nguyễn Đắc V, ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án số 134/2020/HSST); ngày 09/5/2018, Công an phường Bình Hòa, thành phố Thuận An (thị xã Thuận An cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội số 657/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng; ngày 18/02/2019, Công an phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 750.000 đồng. Huỳnh Di T, ngày 23/10/2019, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 201/2019/HS-ST); ngày 25/8/2018, Công an phường Thuận Giao, thành phố Thuận An (thị xã Thuận An cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội số 972/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 750.000 đồng. Đối với Nguyễn Thị B chưa có tiền án, tiền sự,
Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V và Nguyễn Di T liên đới bồi thường số tiền 40.000.000 đồng cho anh Trần Quốc V (giá trị xe mô tô, biển số 92B1-464.50)
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V và Nguyễn Di T liên đới bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho anh Nguyễn Xuân H (giá trị xe mô tô hai, biển số 38C1-186.34).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V liên đới bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho anh Vũ Duy T (giá trị xe mô tô hai bánh, biển số 29N1-734.48).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị B bồi thường số tiền 2.700.000 đồng cho anh Nguyễn Duy S (giá trị 01 Tivi Led hiệu Mobell 32W600A, màu đen, 32 inch).
Buộc Huỳnh Di T bồi thường số tiền 2.600.000 đồng cho Trần Hoài P (giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V liên đới bồi thường số tiền 12.000.000 đồng cho chị Lê Thị T (giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số 78E1-051.05, màu đỏ đen bạc, số khung 4320BY654372, số máy JC43E6428801).
Trách nhiệm dân sự: Anh Tăng Quang L, chủ sở hữu xe mô tô, biển số 69C1–112.67 yêu cầu Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị B bồi thường số tiền 4.000.000 đồng; Thế A và nguyễn Thị B đã bồi thường nên không xem xét.
Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành; nên không xem là đồng phạm có tổ chức.
Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Nguyễn Đắc V mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp với tính chất mức độ, vai trò và nhân thân của bị cáo, nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt dưới mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc V 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Di T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V và Nguyễn Di T liên đới bồi thường số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng cho anh Trần Quốc V (giá trị xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Vario, màu sơn trắng đen, số khung 5117LK676414, số máy JM51B1676183, biển số 92B1-464.50).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V và Nguyễn Di T liên đới bồi thường số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng cho anh Nguyễn Xuân H (giá trị xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SYM, số loại Elegant, màu sơn đen trắng, số khung 10MHEH040451, số máy MSACEH040451, biển số 38C1-186.34).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V liên đới bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng cho anh Vũ Duy T (giá trị xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, số khung 3912KY069405, số máy JA39E0925582, biển số 29N1-734.48).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Thị B liên đới bồi thường số tiền 2.700.000 (hai triệu bảy trăm ngàn) đồng cho anh Nguyễn Duy S (giá trị 01 Tivi Led hiệu Mobell 32W600A, màu đen, 32 inch).
Buộc Huỳnh Di T bồi thường số tiền 2.600.000 (hai triệu sáu trăm ngàn) đồng cho Trần Hoài P (giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 4, màu xanh).
Buộc Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V liên đới bồi thường số tiền 12.000.000 đồng cho chị Lê Thị T (giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số 78E1-051.05, màu đỏ đen bạc, số khung 4320BY654372, số máy JC43E6428801).
Kể từ ngày người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thế A, Nguyễn Đắc V, Huỳnh Di T và Nguyễn Thị B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng. Án phí dân sự: Nguyễn Thế A phải chịu 1.383.000 đồng; Nguyễn Đắc V phải chịu 1.300.000 đồng; Huỳnh Di T phải chịu 895.000 đồng và Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo (01); - VKSND tp D (01); - Công an tp D (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS tp Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND xã các bị cáo TT (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |