- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: L) phạm tội “Mua bán trái phép chất
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật hình sự n m; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 365/2018/HSST Ngày: 17/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Trung Ngôn
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Thiều Đình Thu
2/ Bà Nguy n Thị Thanh Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n V n Th ng - Cán bộ Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguy n Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 n m 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 512/2018/HSST,
ngày 04/9/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4429/2018/QĐXXST-
HS, ngày 27/9/2018 đối với bị cáo:
Lê Văn T (tên gọi khác: L); Giới tính: Nam; Sinh n m: 1992 tại Thành
phố Hồ Chí Minh; Thư ng tr : 7/9/B2 Phạm V n Chiêu, Phư ng A, quận B,
Thành phố C; Nghề nghiệp: Thợ x m; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê V n D (chết) và bà
Huỳnh Thị Ngọc C; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự:
Không;
Bị tạm gi , tạm giam ngày: 16/11/2017 - Có mặt.
Nh ng ngư i tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Bích T
Sinh n m: 1991
Thư ng trú: 7/9/B2 Phạm V n Chiêu, Phư ng A, quận B, Thành phố C
- Có mặt.
- Người bào chữa:
Ông Đỗ Ngọc Oánh là luật sư của V n phòng luật sư Đỗ Ngọc Oánh
thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào ch a cho bị cáo Lê V n T -
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 gi 30 phút, ngày 16/11/2017, tại trước nhà số 37 Lý Tự
Trọng, phư ng Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác thuộc Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Lê V n T đang điều khiển xe mô tô biển số: 59T1-392.43 có hành vi cất gi trái phép chất ma t y để bán cho ngư i khác. Thu gi trong cốp phía dưới cổ xe của T 01 t i ny lon màu đen, bên trong chứa:
- 02 gói ny lon có khối lượng 19,5866 gam, loại Heroin.
- 01 gói ny lon chứa ma túy thể rắn, có khối lượng là 19,7648 gam, loại
Ketamine.
- 07 gói ny lon chứa chất bột màu trắng là ma túy thể rắn, có khối lượng
3,5318 gam, loại Heroin.
- 01 chiếc hộp bằng thiếc hiệu Mentos màu xanh bên trong có chứa:
+ 01 gói ny lon chứa một viên nén màu xanh lam là ma túy thể rắn, khối
lượng 0,3253 gam, loại Methylphenidate.
+ 01 gói ny lon chứa sáu viên nén hình giọt nước màu xanh nhạt là ma
túy thể rắn, khối lượng 2,4780 gam, loại MDMA.
+ 04 gói ny lon (để trong một gói ny lon) chứa chất bột màu trắng là ma
túy thể rắn, có khối lượng 2,2780 gam, loại Heroin.
+ 01 gói ny lon chứa ba viên nén màu vàng hình tròn bánh r ng cưa, có
khối lượng 1,0549 gam, không tìm thấy các chất ma t y thư ng gặp và 04 viên nén màu xanh nhạt, hình tròn bánh r ng cưa, có khối lượng 1,2551 gam, không tìm thấy các chất ma t y thư ng gặp.
(Kết luận giám định số: 07/KLGĐ-H ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ
thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh).
Quá trình điều tra Lê V n T khai nhận: Vào cuối tháng 10/2017, có một
ngư i bạn ngoài xã hội tên P (không xác định được lai lịch) đến nói chuyện với T để hỏi mua ma túy loại thuốc lắc và Ketamine, nhưng do chưa có ma t y nên T hẹn P khi nào có ma túy sẽ điện thoại báo cho P biết. Sau đó khoảng 01 ngày, T gọi điện thoại cho một ngư i bạn tên Phong (không xác định được lai lịch) theo số điện thoại 0949389399 hỏi mua giúp thuốc lắc và Ketamine. Phong đồng ý và hẹn T đến khu vực đư ng Nguy n V n Lượng, quận Gò Vấp (không rõ địa chỉ) sẽ có ngư i bán ma túy cho T. Phong di n tả đặc điểm nhận dạng của ngư i bán ma túy cho T biết để gặp và tìm mua. Đến khoảng 09 gi cùng ngày, T đi đến điểm hẹn gặp một ngư i thanh niên (không xác định được lai lịch) như đặc điểm mà Phong đã tả trước đó và được ngư i này bán cho 98 viên thuốc lắc với giá 190.000 đồng/viên và 13 gói Ketamine với giá tổng cộng là 22.000.000 đồng (Kết quả giám định 13 gói này là Heroin, không phải
Ketamine). T chưa trả tiền mà hứa khi T bán được ma túy sẽ trả tiền sau. Sau
khi nhận được ma t y, T điện thoại liên lạc với P hẹn P ra khu vực đư ng
Phan V n Trị, quận Gò Vấp (không xác định được địa điểm) để bán ma túy
cho P 84 viên thuốc lắc với giá 4.000.000 đồng, còn số Ketamine (thực chất là
Heroin) do P chê hàng kém chất lượng nên không mua. Vào chiều cùng ngày,
T điện thoại liên lạc với một ngư i bạn tên C (không xác định được lai lịch) ở
khu vực Quận 7 để mua 20 gam ma túy, loại Ketamine với giá 20.000.000
đồng bán lại cho P. Đến khoảng 18 gi cùng ngày, T gặp P ở khu vực đư ng
Phan V n Trị, quận Gò Vấp để bán lại số Ketamine đã mua của C nhưng P
cũng không mua vì chê hàng kém chất lượng. Sau đó, T bỏ toàn bộ số ma túy
còn lại vào một chiếc hộp bằng thiếc hiện Mentos và số Ketamine còn lại
(mua của Phong và C) chưa bán được vào t i ny lon màu đen rồi cất giấu vào
trong cốp xe phía dưới cổ xe mô tô biển số 59T1-392.43 của T đang sử dụng.
Đến tối ngày 16/11/2017 khi Thuận chạy xe đến trước nhà số 37 Lý Tự Trọng,
phư ng Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị phát hiện bắt quả
tang như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài ghi số 07/2018 có ch ký của
giám định viên Trần Đình Hải (PC54) và cán bộ điều tra Lê Anh Kế (CAQ.1),
bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone.
- 01 cân điện tử.
- 01 bóp màu đen.
- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê V n T.
- 01 giấy phép lái xe tên Lê V n T.
- 01 giấy đ ng ký xe gắn máy biển số 59T1- 392.43 tên Lê V n T.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggo Lyberty, biển số 59T1- 392.43, số máy:
M731M4051062, số khung: RP8M73100CV116380.
- Số tiền: 11.000.000 (mư i một triệu) đồng.
Bản cáo trạng số: 218/CT-VKS-P1, ngày 28/5/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
- Bị cáo Lê V n T về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo điểm h
khoản 3 Điều 194 của Bộ luật hình sự n m 1999, được sửa đổi, bổ sung n m
2009.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gi nguyên quan
điểm truy tố đối với bị cáo đ ng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích,
đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo
gây ra, xét bị cáo tại phiên tòa quanh co, chối tội nên đại diện Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê V n T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”.
- p dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự n m
1999, sửa đổi, bổ sung n m 2009.
Xử phạt bị cáo Lê V n T từ 15 (mư i l m) n m tù đến 17 (mư i bảy) n m
tù.
Phạt bị cáo Lê V n T số tiền 15.000.000 (mư i l m triệu) đồng để sung
vào ngân sách Nhà nước.
Về v t ch ng
Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào ch a cho bị cáo Lê V n T không thống nhất với đại diện Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần tội danh. Luật sư cho rằng ngoài l i khai duy nhất của bị cáo T không có chứng cứ nào khác thể hiện bị cáo “Mua bán trái phép chất ma túy” nên bị cáo chỉ phạm vào tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, cha của bị cáo đã chết, mẹ thư ng xuyên đau ốm. Vì vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh, xét xử bị cáo phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma t y” với mức án thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận:
trong suốt quá trình điều tra từ khi bị bắt quả tang đến khi có kết luận điều tra vụ án tại các biên bản hỏi cung bị can và bản tự khai đều thể hiện rõ nội dung bị cáo mua ma túy để bán lại kiếm l i. Khi nhận kết luận điều tra vụ án bị cáo còn ghi rõ “tôi đồng ý với nội dung kết luận điều tra” vào biên bản giao nhận kết luận điều tra. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu gi của bị cáo cân tiểu ly và nhiều bịch nylon khác nhau. Khi bắt quả tang cơ quan điều tra thu gi của bị cáo Heroine và nhiều loại ma túy khác như Ketamine, Methylphenidate và MDMA. Tuy nhiên, khi xét nghiệm ma t y đối với bị cáo xác định bị cáo chỉ dương tính với Heroine. Vì vậy, bị cáo cất gi các chất ma t y là để bán kiếm l i, đ ng như l i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Do đó có đủ cơ sở để chứng minh bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng.
Bị cáo Lê V n T không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma
túy. Bị cáo chỉ mua ma t y để sử dụng cho bản thân nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chuyển tội danh “Tàng tr trái phép chất ma t y” cho bị cáo.
Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến của mình đã trình bày trước
phiên tòa, không tranh luận bổ sung.
C n cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; c n
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và nh ng ngư i tham
gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố
Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê V n T khai nhận mua ma t y để sử
dụng chứ không phải mua ma t y để bán lại kiếm l i. Tuy nhiên, trong suốt
quá trình điều tra từ khi bị bắt quả tang đến khi có kết luận điều tra vụ án
tại các biên bản hỏi cung bị can và bản tự khai đều thể hiện rõ nội dung
bị cáo mua ma túy để bán lại kiếm l i. Khi bắt quả tang cơ quan điều tra
thu gi của bị cáo Heroine và nhiều loại ma t y khác như Ketamine,
Methylphenidate và MDMA. Tuy nhiên, khi xét nghiệm ma t y đối với bị cáo
xác định bị cáo chỉ dương tính với Heroine. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn
thu gi của bị cáo cân tiểu ly và nhiều bịch nylon khác nhau. Vì vậy, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Lúc 22 gi 30 phút, ngày 16/11/2017, tại
trước nhà số 37 Lý Tự Trọng, phư ng Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí
Minh, bị cáo T điều khiển xe mô tô có hành vi cất gi trái phép chất ma t y để
bán cho ngư i khác kiếm l i thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo T
đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma t y”, tội phạm và hình phạt quy định
tại Điều 194 của Bộ luật hình sự n m 1999, sửa đổi, bổ sung n m 2009. Do đó,
l i bào ch a của luật sư và của bị cáo về việc chuyển sang tội danh “Tàng tr
trái phép chất ma t y” là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều xác định
nguồn ma túy bị cáo Lê V n T mua của đối tượng tên Long và đối tượng tên C
(không rõ lai lịch) về bán lại cho đối tượng tên P (không rõ lai lịch) thì bị bắt
quả tang. Thu gi : 02 gói ny lon có khối lượng 19,5866 gam, loại Heroin; 07
gói ny lon có khối lượng 3,5318 gam, loại Heroin; 04 gói ny lon có khối lượng
2,2780 gam, loại Heroin; 01 gói ny lon chứa ma túy thể rắn, có khối lượng là
19,7648 gam, loại Ketamine; 01 gói ny lon chứa một viên nén màu xanh lam
là ma túy thể rắn, khối lượng 0,3253 gam, loại Methylphenidate; 01 gói ny lon chứa sáu viên nén hình giọt nước màu xanh nhạt là ma túy thể rắn, khối lượng 2,4780 gam, loại MDMA. Như vậy, bị cáo Thuận phải chịu trách nhiệm hình sự, về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” đối với tổng khối lượng ma túy bị thu gi là: 25,3964 gam, loại Heroin; 22,5681gam (19,7648gam + 0,3253gam + 2,4780gam) ma túy thể rắn loại Ketamine, Methylphenidate và MDMA.
C n cứ Thông tư số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP,
ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “các tội phạm về ma t y” của Bộ luật hình sự n m 1999 quy định trư ng hợp các chất ma túy có trọng lượng tại các điểm khác nhau của cùng khoản thì tổng trọng lượng của các chất ma t y đó được xác định:
- Tỷ lệ phần tr m về trọng lượng của Heroin so với mức tối thiểu đối
với Heroin quy định tại điểm b khoản 3 Điều 194 của Bộ luật hình sự là 84,6546 % (25,3964 gam so với 30 gam).
- Tỷ lệ phần tr m về trọng lượng của Ketamine, Methylphenidate và
MDMA so với mức tối thiểu đối với Ketamine, Methylphenidate và MDMA quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 của Bộ luật hình sự là 22,5681 % (22,5681 gam so với 100 gam).
- Tỷ lệ phần tr m về trọng lượng của các chất ma túy Heroin và
Ketamine, Methylphenidate, MDMA là 84,6546 % + 22,5681 % = 107,2227% (thuộc trư ng hợp từ 100% trở lên) cho nên bị cáo Thuận phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 3 Điều 194 của Bộ luật hình sự n m 1999, được sửa đổi, bổ sung n m 2009.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã
hội, không nh ng trực tiếp xâm hại đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm hại trực tiếp đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma t y gia t ng. Bị cáo biết rất rõ ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe con ngư i mà còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, để gi gìn kỷ cương pháp luật, để củng cố niềm tin của nhân dân, cần phải xử bị cáo mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nhằm mục đích giáo dục bị cáo và r n đe phòng ngừa cho toàn xã hội.
Ngoài hình phạt chính, phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Lê V n T quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê V n T không thành khẩn khai báo,
thay đổi l i khai, phủ nhận toàn bộ l i khai của mình tại cơ quan điều tra. Do đó, bị cáo không được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Đối với đối tượng tên Phương là ngư i mua ma túy của T và các đối
tượng tên Phong, C và ngư i thanh niên bán ma túy cho T, do T khai không rõ lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Về v t ch ng của vụ án:
- Đối với toàn bộ số ma túy thu gi của bị cáo là tang vật liên quan đến
vụ án, là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggo Lyberty, biển số 59T1- 392.43,
số máy M731M4051062, số khung RP8M73100CV116380 kèm theo 01 (một)
giấy đ ng ký xe gắn máy biển số 59T1- 392.43 tên Lê V n T; 01 (một) điện
thoại di động hiệu Iphone; 01 (một) cân điện tử thu gi của bị cáo Thuận do bị
cáo T sử dụng để liên lạc, lưu thông và phục vụ cho việc mua bán ma túy nên
tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) bóp màu đen; 01 (một) giấy chứng minh nhân dân
tên Lê V n T; 01 (một) giấy phép lái xe tên Lê V n T không liên quan đến
hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo T.
- Đối với 11.000.000 (mư i một triệu) đồng, trong đó có 7.000.000 (bảy
triệu) đồng là tiền của chị ruột bị cáo T tên là Lê Thị Bích Th đưa cho T mua
mỹ phẩm không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Th. Riêng
số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng bị cáo T dùng để mua bán ma túy nên cần
tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Văn T (tên gọi khác: L) phạm tội “Mua bán trái phép chất
ma tuý”.
- Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự n m
1999, được sửa đổi, bổ sung n m 2009.
Xử phạt: bị cáo Lê V n T (tên gọi khác: L): 16 (mười sáu) năm tù.
Th i hạn tù tính từ ngày: 16/11/2017.
Phạt bị cáo Lê V n T (tên gọi khác: L) số tiền 10.000.000 (mư i triệu)
đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự n m 2015, được sửa
đổi bổ sung n m 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
T ch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động Iphone màu bạc đã qua sử dụng, model
A1522.
+ 01 (một) cân điện tử.
+ 01 (một) xe hai bánh gắn máy màu xanh, nhãn hiệu: Piaggio, loại xe:
02 bánh, số loại: Liberty, biển số: 59T1-392.43, số khung:
RP8M73100CV116380 (ghi theo số cà), số máy: M731M4051062 (ghi theo số cà) kèm theo 01 (một) giấy đ ng ký xe gắn máy biển số 59T1- 392.43 tên chủ xe Lê V n Thuận.
+ Số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng.
T ch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong số 07/2018 bên ngoài có ch ký của Giám
định viên Trần Đình Hải và cán bộ Lê Anh Kế, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
Trả lại cho b cáo Lê Văn T:
+ 01 (một) bóp màu đen.
+ 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Lê V n T.
+ 01 (một) giấy phép lái xe tên Lê V n T.
Trả lại cho bà Lê Th Bích T:
+ Số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số: 283/18 ngày 02 tháng 7 n m
2018 tại kho 253/5 Lũy Bán Bích, phư ng Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền vào tài khoản số: 3949.0.905.9775.00000 tại NBNN: Quận 10, ngày 09/5/2018).
- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND-TP.HCM; (3) - Cục THA-DS; (1) - THA HS; (2) - Phòng PC53 - CA Tp. HCM; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Trại giam; (1) - Bị cáo; (1) - Ngư i bào ch a; (1) - UBND nơi bị cáo cư tr ; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ; (22) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N u n Trun N n |