vanban.org

Bản án 364/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 03/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Căn cứ chính? Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 364/2020/HS-PT
Ngày: 03-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các thẩm phán: Ông Trương Phước Tự.

Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 317/2020/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thị L, do c háng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo c háng cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1949 tại Đồng Tháp; nơi cư trú (HKTT): Khóm X, thị trấn Mỹ A, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn h a (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1923 (đã chết) và bà Đào Thị V, sinh năm 1923 (đã chết); c chồng và có 07 người con; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo đang tại ngoại (c mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn c ị hại, người c quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có háng cáo và Vi n i m sát h ng háng nghị.

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Vào hoảng 17 giờ ngày 09/02/2020, sau hi đã uống rư u, anh Nguyễn Văn H đến nhà người chị ruột tên Nguyễn Thị N ở ấp Mỹ Đ, xã Phú Đ1, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp chơi. Giữa H và anh Hồ Văn C- là người hàng x m giáp ranh nhà chị N xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. H đi bộ sang đứng trước cổng nhà anh C, anh C từ trong nhà đi ra, hai bên cự cãi thách thức đánh nhau. H dùng tay đánh trúng vào vùng mặt anh C một cái làm anh C té ngã xuống đất. Chị Lê Thị Thu T là v anh C chạy ra can ngăn thì H bỏ đi về nhà chị N. Gia đình anh C trình báo Công an xã Phú Đ đến làm việc. Khi sự việc xảy ra, bà Nguyễn Thị L là mẹ H biết đư c sự việc nên n i chị Nguyễn Thị N1 điều hiển xe mô tô từ nhà ở h m X, thị trấn Mỹ A đến nhà chị N để tìm H. Khi đi bà L C đem theo 01 con dao hàng ngày dùng để v t cọng dừa, C đặc điểm cán dao màu hồng dài 09 cm, phần lưỡi dao bằng im loại màu trắng dài 6,5 cm, rộng 01 cm để trong túi áo phía trước.

Đến hoảng 19 giờ cùng ngày, H điều hiển xe mô tô đi mua rư u, hi chạy đến hàng rào lưới B40 nhà anh C thì bị anh Hồ Văn H và Hồ Văn Phú Q chặn đầu xe, dùng tay và mũ bảo hiểm đánh H. H chống trả và dùng tay câu cổ Q xuống vị trí sát hàng rào lưới B40. Khi nghe tiếng động phía trước nhà, chị N1, anh H1, chị N chạy ra xem thấy C đánh nhau nên chị N1 vào can ngăn, H và Q hông đánh nhau nữa mà buông nhau ra. Những người trong gia đình anh C cũng chạy ra, tạo thành 02 nh m người bên phía H và bên phía Q, 02 nh m đứng đối diện, cách nhau hoảng 05m. Lúc này, bà L từ trong nhà đi ra sau, bà L hông n i gì mà lấy con dao đem theo bên người từ trước cầm trên tay, đi đến vị trí Q đang đứng, đâm Q một cái trúng vào vùng bụng. Q đưa tay chụp vết thương thì bà L rút dao ra gây thương tích tại ng n II, ng n III bàn tay trái của Q. Do vết thương vùng bụng bị chảy nhiều máu nên Q đư c mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa hoa hu vực Tháp M, sau đ chuyển lên Bệnh viện đa hoa tỉnh Đồng Tháp, Bệnh viện Ch Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh Điều trị đến ngày 21/02/2020 thì xuất viện. Sau đ , Q về nhà dưỡng thương và đi tái hám, uống thuốc theo toa của bác sĩ đến ngày 27/3/2020. Tổng chi phí điều trị là 31.069.000 đồng.

Tại Bản ết luận giám định pháp y về thương tích số 109/TgT ngày 11/5/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Tháp ết luận dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương phần mềm cạnh rốn phải gây thủng tá tràng một lỗ đã đư c phẫu thuật hâu lỗ thủng. Hai sẹo dẫn lưu hông phải, hông trái, lành tốt. Sẹo mổ đường giữa trên dưới rốn lành tốt. Hai sẹo vết thương phần mềm ng n II, ng n III bàn tay trái lành tốt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%. Vết thương phần mềm cạnh rốn phải gây thủng tá tràng do vật sắc nhọn gây nên. Hai sẹo vết thương phần mềm ng n II, ng n III bàn tay trái do vật sắc tác động gây nên.

Về nguyên nhân dẫn đến vụ việc xuất phát từ việc anh H C hành vi dùng tay đánh anh C. Khi sự việc đang đư c Công an xã Phú Đ giải quyết thì anh H, anh Q C hành vi dùng tay, dùng mũ bảo hiểm đánh nhau với H. Sự việc đã đư c chị Nhớ chạy ra can ngăn, H và Q đã buông nhau ra hông còn đánh nhau nữa. Bị cáo L là mẹ của H, đi ra sau, hi sự việc đánh nhau hông còn nữa. Tuy nhiên, vì muốn trả thù cho H nên bà L đã C hành vi dùng con dao là hung hí nguy hiểm đâm một cái trúng vào vùng bụng của Q gây thương tích.

Về vật chứng: Thu giữ 01 con dao c đặc điểm cán màu hồng dài 09 cm, phần lưỡi bằng im loại màu trắng dài 6,5 cm, rộng 01 cm của bị cáo L, 01 đĩa CD trích xuất dữ liệu từ camera tại hiện trường vụ án; 01 mũ bảo hiểm loại c ính, c sọc màu đỏ xanh, c vết nứt dài 15 cm của anh Võ Văn T.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2020/HS-ST ngày 15/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm o, s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị L bồi thường về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền háng cáo theo luật định.

Đến ngày 28 tháng 9 năm 2020, bị cáo Nguyễn Thị L c đơn háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 11 tháng 11 năm 2020, bị cáo Nguyễn Thị L c đơn háng cáo bổ sung cũng với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị L thừa nhận vào hoảng 19 giờ ngày 09/02/2020, bị cáo C hành vi cầm con dao mà thường ngày bị cáo dùng để v t cọng dừa, C đặc điểm cán dao màu hồng dài 09 cm, phần lưỡi dao bằng im loại màu trắng dài 6,5 cm, rộng 01 cm đâm một cái vào vùng bụng của bị hại Hồ Văn Phú Q, Q đưa tay chụp vào vết thương thì bị cáo rút dao ra gây thương tích ở bụng và các ng n tay của Q. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là C lỗi, nhưng vì thấy con là Nguyễn Văn H bị Q đánh nên bênh vực H mà đâm Q. Bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là cao, bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để C điều iện chăm lo cho chồng bị cáo đang bị bệnh tim nặng, bản thân bị cáo lớn tuổi cũng mang nhiều bệnh, bị cáo tuy C nhiều con nhưng ai cũng nghèo và đang ở xa, hoàn cảnh bị cáo h hăn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là C căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo L gây ra, xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên, bị cáo thành hẩn hai báo quy định tại các điểm o, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng hoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù. Sau hi xét xử sơ thẩm, bị cáo L C háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh chồng bị cáo đang bị bệnh tim nặng hông thể tự lao động đư c, hoàn cảnh gia đình bị cáo h hăn C xác nhận của chính quyền địa phương, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét. Do đ , Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận háng cáo của bị cáo L, sửa Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù.

Tại phần tranh luận bị cáo hông tranh luận. Trong lời n i sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận háng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo C điều iện chăm s c cho chồng bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời hai nhận tội của bị cáo phù h p với lời hai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù h p với lời hai của bị hại, người C quyền l i và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, ết luận giám định và phù h p với các tài liệu, chứng cứ khác C trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở để xác định: Xuất phát từ việc anh Nguyễn Văn H (con bị cáo L) C hành vi dùng tay đánh anh C. Khi sự việc đang đư c Công an xã Phú Đ giải quyết thì anh H, anh Q C hành vi dùng tay, dùng mũ bảo hiểm đánh nhau với H. Sự việc đã đư c chị N1 chạy ra can ngăn, H và Quí đã buông nhau ra không còn đánh nhau nữa. Bị cáo L là mẹ của H, đi ra sau, hi sự việc đánh nhau hông còn nữa, nhưng vì muốn trả thù cho H nên bị cáo L đã C hành vi dùng con dao là hung khí nguy hiểm đâm một cái trúng vào vùng bụng của Q gây thương tích cho Q ở bụng và các ng n tay. Theo ết luận giám định pháp y thì tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hồ Văn Phú Q do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 30%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức hỏe của người hác trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi, bị cáo L là người trên 70 tuổi, C inh nghiệm sống, C hả năng phân biệt đúng, sai trong cách cư xử, nhưng bị cáo lại cố ý gây ra thương tích cho bị hại, bị cáo dùng bạo lực để giải quyết các xung đột, cách cư xử của bị cáo trái với quy định của pháp luật và hông phù h p với đạo đức xã hội. Hậu quả từ hành vi trái pháp luật của bị cáo L đã làm cho bị hại Hồ Văn Phú Q bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 30%. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã ết án bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo L gây ra, xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên, bị cáo thành hẩn hai báo quy định tại các điểm o, s hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng hoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của hung hình phạt mà bị cáo vi phạm - xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Sau hi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lan C háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh chồng bị cáo đang bị bệnh nặng hông thể tự lao động đư c (Nhồi máu cơ tim b/c thành trước rộng tuần 2 Killip II- suy tim 3- bệnh tim TMCB- hở van 2 lá ¾- tăng huyết áp- rối loạn lipic máu- bệnh thận mạn giai đoạn 3), bị cáo là người trực tiếp chăm s c chồng, bị cáo C nhiều con nhưng các con đều nghèo và làm ăn xa, hoàn cảnh gia đình bị cáo h hăn, không C thu nhập, chỉ dựa vào hỗ tr của các con đư c Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ A, huyện Tháp M xác nhận. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đ chấp nhận háng cáo của bị cáo Lan, sửa quyết định của Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Xét thấy các phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án là C căn cứ chấp nhận.

[5] Do háng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L đư c chấp nhận và bị cáo là người cao tuổi, nên bị cáo hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần quyết định hác của Bản án sơ thẩm hông C háng cáo, háng nghị C hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các l trên,

Q YẾT Đ NH:

1. Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355 và điểm c hoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị L.

Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2020/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ hoản 2 Điều 134; các điểm o, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51; hoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ hoản 1 Điều 12, điểm h hoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20216 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị L hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định hác của Bản án sơ thẩm hông C háng cáo, háng nghị C hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm C hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ