vanban.org

Bản án 363/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 26/05/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn H; Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2022/HC-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Về án phí: Ông Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0005219 ngày 29/11/2011 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình. Xác nhận ông H đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "“Khiếu kiện quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai”"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn H; Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2022/HC-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 225 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 363/2023/HC-PT
Ngày 26/5/2023
V/v khiếu kiện quyết định hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hà;

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Tự Học

Ông Nguyễn Vũ Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Hỗ trợ tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Quý Dương, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 131/2023/TLPT-HC ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2022/HC-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4584/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Ông Trần Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn Phúc Kh, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; có mặt.

* Người bị kiện:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Văn H1 - Phó chủ tịch; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đào Quang Ngh - Trưởng phòng nghiệp vụ trung tâm trợ giúp pháp lý, tỉnh Thái Bình; có mặt.

2. Ủy ban nhân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ - Phó chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Đình Th - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ - Phó chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Đình Th - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn D, sinh năm 1962; vắng mặt;

2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1974; vắng mặt;

3. Bà Trần Thị G, sinh năm 1957; vắng mặt;

4. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1971; vắng mặt;

5. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1958; vắng mặt;

6. Ông Trần Văn N, sinh năm 1966; vắng mặt;

7. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1970; vắng mặt;

8. Anh Trần Quốc H3, sinh năm 1984; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn Phúc Kh, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền của ông D,ông T, bà G, bà H2, ông T1, ông N, bà T2, anh H3: Ông Trần Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn Phúc Kh, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, đơn bổ sung đơn khởi kiê ̣n, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện trình bày:

Bố mẹ ông H là cụ Trần Văn M (chết 2016) và cụ Hoàng Thị Th1 (chết 2018), hai cụ được Nhà nước giao 599m2 đất nông nghiệp thuộc 02 thửa: thửa số 73, tờ bản đồ 11 diện tích 491m2 và thửa số 127, tờ bản đồ 12 diện tích 108m2, tại thôn Phúc Kh, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

Ngày 01/12/2016, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Thái Bình có Quyết định số 13577/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, gia đình bố mẹ ông bị thu hồi toàn bộ diện tích là 599m2. Căn cứ phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB kèm theo Quyết định số 13577/QĐ-UBND, gia đình bố mẹ ông H ở số thứ tự 135 được bồi thường hỗ trợ tổng số tiền là 119.751.800 đồng.

Theo Thông báo số 221/TB-PTQĐ ngày 02/12/2016 của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình, ông được biết UBND thành phố Thái Bình sử dụng đất thu hồi của bố mẹ ông vào mục đích phát triển kinh tế xã hội, gia đình ông đã bàn giao ruộng canh tác cho UBND thành phố Thái Bình. Sau đó, ông nhận thấy UBND thành phố Thái Bình lại giao cho Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long (sau đây gọi là Công ty Thăng Long) thực hiện dự án với tên gọi Khu đô thị mới, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, trong khi tại danh mục các công trình, dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh Thái Bình (ban hành kèm theo Công văn số 2824/BTNMT-TLQLĐĐ ngày 27/4/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh Thái Bình) dự án tại xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình là dự án “Khu đô thị, thương mại dịch vụ”. Quá trình thực hiện, Công ty Thăng Long thực hiện phân lô, bán nền khu đất dự án. Căn cứ theo quy định tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013, dự án mà Công ty Thăng Long thực hiện không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất mà thuộc trường hợp doanh nghiệp phải tự thỏa thuận, thương lượng với người dân trên cơ sở giao dịch dân sự quy định tại Điều 73 Luật đất đai 2013. Vì vậy, UBND thành phố Thái Bình không có thẩm quyền thu hồi đất của gia đình ông, đồng nghĩa với các quyết định UBND thành phố Thái Bình ban hành là trái pháp luật.

Quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư do UBND thành phố Thái Bình thực hiện tồn tại nhiều sai phạm, cụ thể: tiền bồi thường được chi trả cho các hộ dân được áp dụng nhiều mức giá khác nhau, có hộ được bồi thường 69.000.000 đồng/sào, có hộ 130.000.000 đồng/sào; 150.000.000đ/sào; 175.000.000đ/sào.

Ngày 13/12/2019 và 28/12/2020, ông cùng các hộ dân có đất bị thu hồi đã có đơn khiếu nại quyết định bồi thường hỗ trợ GPMB thực hiện dự án “Khu đô thị mới xã Vũ Ph” của UBND thành phố Thái Bình, cụ thể: Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình (sau đây gọi là Quyết định 13577/QĐ-UBND); Quyết định số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án; Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án; Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án xây dựng khu đô thị mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

Ngày 17/9/2020, Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình ra Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu bác toàn bộ nội dung khiếu nại, giữ nguyên các Quyết định số 13577/QĐ-UBND; Quyết định số 1185/QĐ-UBND và Quyết định số 2282/QĐ-UBND.

Không đồng ý với quyết định trên, ngày 21/10/2020 các hộ dân đã khiếu nại đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu.

Ngày 05/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu, giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình.

Việc giữ nguyên các quyết định giải quyết khiếu nại gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của gia đình ông, những người trực tiếp có đất bị thu hồi. Dự án thực hiện là dự án tư nhân, có mục đích thương mại, kinh tế nhưng UBND thành phố Thái Bình thu hồi đất và bồi thường đất theo giá nhà nước, không có bất kỳ sự thỏa thuận nào giữa người dân và chủ dự án là không đúng quy định của pháp luật đất đai và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Ông H không có ý kiến gì về việc thu hồi đất nhưng việc đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng không công bằng nên ông phải đòi hỏi quyền lợi, ông yêu cầu UBND thành phố Thái Bình nâng mức bồi thường cho gia đình ông 175.000.000 đồng/sào.

Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

1. Hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Hủy Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

3. Hủy quyết định số số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

* Người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố Thái Bình và Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình trình bày:

1. Về căn cứ, thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng:

Dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012; đây là dự án đối ứng tạo nguồn thu từ giá trị quyền sử dụng đất để thanh toán cho công trình đường Kỳ Đồng kéo dài thành phố Thái Bình, thực hiện theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long; được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác để thực hiện dự án tại Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 23/9/2013; UBND tỉnh Thái Bình có Văn bản số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 chấp thuận chủ đầu tư dự án; HĐND tỉnh Thái Bình có Nghị quyết số 30/2015/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 phê duyệt danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013.

Dự án có trong kế hoạch sử dụng đất của thành phố Thái Bình năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt tại các Quyết định số 3292/QĐ-UBND ngày 31/12/2014, Quyết định số 257/QĐ-UBND ngày 26/01/2016, Quyết định số 247/QĐ-UBND ngày 20/01/2017, Quyết định số 386/QĐ-UBND ngày 05/02/2018 và Quyết định số 588/QĐ-UBND ngày 25/02/2019.

Dự án có tổng diện tích đất quy hoạch là 31 ha, trong đó: đất công trình văn hóa 0,19 ha; đất công trình giáo dục 0,43 ha; đất công trình thể thao 0,38 ha; đất dịch vụ thương mại 0,98 ha; đất nhà ở liền kề 11,41 ha; đất xây dựng chung cư nhà ở xã hội 1,1ha; đất nhà ở hiện trạng 0,47 ha; đất cây xanh, mặt nước 2,9 ha; đất đấu nối hạ tầng kỹ thuật 0,36 ha; đất giao thông 12,73 ha. Như vậy, dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph có mục đích để phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nên thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013. Dự án không thuộc trường hợp sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh quy định tại Điều 73 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013; Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh Thái Bình về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án BT, HT, GPMB, vì vậy UBND thành phố Thái Bình đã ban hành Quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân và Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 phê duyệt phương án BT, HT, GPMB (trong đó có hộ gia đình ông Trần Văn M) để thực hiện dự án là đúng căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật.

2. Về trình tự thủ tục và chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

Ngày 05/8/2016, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND về việc thu hồi đất và đã ban hành các thông báo thu hồi đất và gửi đến người có đất bị thu hồi thuộc dự án theo quy định.

Ngày 31/8/2016 và ngày 11/9/2016 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với UBND xã Vũ Ph, cơ sở thôn, các đơn vị có liên quan và đại diện các hộ dân có đất bị thu hồi họp để triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án, trong đó: đã triển khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất, các quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng.

Sau khi thống kê diện tích, chủ sử dụng đất, tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi, nhân khẩu nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án, kiểm đếm tài sản, cây trồng trên đất, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã Vũ Ph, cơ sở các thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã Vũ Ph, cơ sở các thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định.

Xét đề nghị của các phòng, ban, đơn vị liên quan; UBND thành phố Thái Bình đã ban hành các quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án và ban hành các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, trong đó có Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 phê duyệt phương án BT, HT, GPMB liên quan đến hộ ông Trần Văn M.

- Về lập phương án BT, HT, GPMB: Sau khi ban hành Kế hoạch, Thông báo thu hồi đất, UBND thành phố Thái Bình đã chỉ đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất, các phòng, ban, đơn vị liên quan thành phố và UBND xã Vũ Ph lập phương án BT, HT, GPMB đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi thuộc dự án đúng theo chế độ chính sách, đơn giá BT, HT và thống nhất chung cho tất cả các hộ dân trong cùng dự án theo quy định tại Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định số 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016, Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 và Công văn số 1346/UBND-NNTNMT ngày 07/5/2015 của UBND tỉnh Thái Bình; Xét đề nghị của Trung tâm Phát triển quỹ đất, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thái Bình, UBND thành phố đã phê duyệt phương án BT, HT, GPMB cho các hộ dân tại Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 (trong đó có hộ ông M) là đảm bảo đúng quy định của Luật đất đai; Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính Phủ và Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016, Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh Thái Bình, đảm bảo thống nhất một chế độ chính sách đối với tất cả các hộ dân trong cùng dự án. Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình đã phối hợp với UBND xã Vũ Ph thông báo và tổ chức chi trả tiền BT, HT cho các hộ dân theo đúng phương án được phê duyệt. Như vậy, việc ông H cho rằng phương án BT, HT, GPMB của dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph không công bằng là không có cơ sở.

- Về sự khác biệt tên dự án: Tại số thứ tự 154 Danh mục các công trình, dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh Thái Bình ban hành kèm theo Công văn số 2824/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 24/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuyển mục đích đất trồng lúa trên địa bàn tỉnh Thái Bình (được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận tại Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 29/3/2013) tên dự án, công trình là dự án Khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tổng diện tích 31 ha, trong đó đất trồng lúa 25,7 ha.

Tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư Vũ Ph, thành phố Thái Bình, dự án có tổng diện tích đất quy hoạch là 31 ha.

Về thực chất Khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã Vũ Ph hay Khu dân cư Vũ Ph đều là một dự án Khu dân cư mới xã Vũ Ph; vì dự án có cùng một vị trí, địa điểm, cùng một diện tích; tại mục căn cứ xem xét, thẩm định dự án trình Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận là Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

3. Về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình:

Không nhất trí với đơn giá bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân có đất thu hồi tại dự án có đơn khiếu nại gửi UBND thành phố Thái Bình; theo đơn khiếu nại đề ngày 28/5/2020 và nội dung làm việc ngày 11/6/2020 của Thanh tra thành phố Thái Bình, bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình khiếu nại các Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016; số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019; số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019; số 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

Xem xét giải quyết khiếu nại của các hộ dân, ngày 03/7/2020, UBND thành phố có Thông báo số 590/TB-UBND thụ lý giải quyết khiếu nại; ngày 20/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 2411/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại lần đầu của bà bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình; ngày 09/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố có Quyết định số 2323/QĐ-UBND ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình giải quyết khiếu nại.

Xét đề nghị của Đoàn xác minh tại Báo cáo số 03/BC-ĐXM về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình. Ngày 17/9/2020, Phó Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình đã ký Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình; trong đó kết luận: giữ nguyên nội dung các Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016; số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019; số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019; số 2282/QĐ-UBND ngày 13/7/2019 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

Việc giải quyết khiếu nại vụ việc nêu trên của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình là đảm bảo quy định của Luật khiếu nại năm 2011; Nghị định 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ.

Vì các căn cứ trên, UBND thành phố Thái Bình khẳng định toàn bộ quá trình thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và giải quyết khiếu nại liên quan đến thu hồi đất tại dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có căn cứ, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình trình bày:

1. Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần hai)

Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết khiếu nại (lần 2) của các công dân đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình là bảo đảm đúng quy định tại khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 40 Luật Khiếu nại năm 2011và khoản 7 Điều 22 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015.

2. Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại (lần hai)

Sau khi nhận đơn khiếu nại của các công dân, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình thực hiện thụ lý, thông báo cho các công dân và giao Sở Tài nguyên và Môi trường xác minh nội dung khiếu nại; tổ chức đối thoại với các công dân theo quy định trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 2).

Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại (lần hai) nêu trên bảo đảm theo đúng quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại.

3. Về nội dung giải quyết khiếu nại (lần hai)

Căn cứ Báo cáo số 322/BC-STNMT ngày 30/12/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ dân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu), Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, thấy: Việc giải quyết khiếu nại của các công dân xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình bảo đảm đúng trình tự, thẩm quyền, đảm bảo quyền lợi của hộ gia đình ông Trần Văn M và các hộ gia đình có đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật nên đã quyết định giữ nguyên Quyết định số 3272/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu là có cơ sở.

Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến trình bày.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2022/HC-ST ngày 16/8/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; điểm a khoản 3 Điều 116; Điều 158, Điều 168; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; các Điều 62, 66, 69, 75, 77, 83, 84, 88, 89, 90, 93, 204 Luâ ̣t Đất đai năm 2013; Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; các Điều 18, 21, 27, 29, 30, 31, 36, 38, 39, 40 Luâ ̣t Khiếu na ̣i năm 2011; Điều 22, 29 Luâ ̣t Tổ chứ c chinh quyền đi ̣a phương năm 2015; Điều 32 Nghị quyết

́ 326/2016/UBTVQH 14 ngay 30/12/2016 của Ủ y ban Thương vu ̣ Quốc hô ̣i về án

̀

̀ phí, lệ phí Tòa án.

[1] Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H về viê ̣c yêu cầu:

1. Hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

2. Hủy Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Hoàng Thị T3 cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn Phúc Kh, thôn Phúc Th2, xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

3. Hủy Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2022, người khởi kiện ông Trần Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Trần Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người khởi kiện ông Trần Văn H trình bày: UBND thành phố Thái Bình không có thẩm quyền thu hồi đất cho nên Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình ban hành không đúng thẩm quyền; đơn giá bồi thường, hỗ trợ tái định cư thực tế không đảm bảo nguyên tắc công bằng khách quan. Do đó, ông yêu cầu UBND thành phố Thái Bình nâng mức bồi thường cho gia đình ông lên 175.000.000 đồng/sào và hủy các Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình; Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn H là hợp lệ, đúng thời hạn, thời hiệu theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, qua quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Bác kháng cáo của ông Trần Văn H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, các đương sự; Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy:

Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn H nộp trong thời hạn và đúng với quy định tại Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính nên hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết là đúng pháp luật.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình; đại diện người bị kiện UBND và Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Căn cứ Điều 157, 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét nội dung đơn kháng cáo của ông Trần Văn H, thấy:

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành Quyết định hành chính:

Về hình thức: Các Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình (BL42-44); Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố Thái Bình (BL 49-63) và Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình (BL 39-41) được ban hành đúng thể thức văn bản, đầy đủ nội dung về căn cứ ban hành quyết định, nội dung quyết định, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong việc thi hành quyết định.

- Về căn cứ ban hành: Sau khi Thủ tướng Chính phủ có Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 23/9/2013 (BL 45) đồng ý cho UBND tỉnh Thái Bình chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo đề nghị của Bộ TNMT tại Công văn số 2824/BTNMT-TCQLĐ ngày 24/7/2013 trong đó có dự án khu đô thị, thương mại dịch vụ xã Vũ Ph (BL46-48); HĐND tỉnh Thái Bình có Nghị quyết số 30/2015/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 (BL121-122) phê duyệt danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia cộng đồng trên địa bàn; Tại Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 UBND tỉnh Thái Bình đã ủy quyền cho UBND thành phố Thái Bình triển khai thực hiện các biện pháp để thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án khu dân cư mới Vũ Ph. UBND tỉnh Thái Bình đã có Công văn số 2239/UBND-CTXDGT ngày 24/6/2016 (BL 123) chỉ đạo UBND thành phố Thái Bình thực hiện. Như vậy, dự án “Khu dân cư mới xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình” thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ vào Điều 66, Điều 69 Luật đất đai năm 2013, ngày 01/12/2016 UBND thành phố Thái Bình đã ban hành Quyết định số 13443/QĐ-UBND thu hồi 599m2 đất (LUC) đối với hộ ông Trần Văn H (BL 133), và Quyết định số 13577/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph với tổng số tiền là 119.751.800 đồng gồm các khoản kinh phí bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng và kinh phí thực hiện giải phóng mặt bằng; theo đó hộ ông Trần Văn H ở số thứ số 135 (BL 55), tổng diện tích bị thu hồi theo hiện trạng là 599m2, gồm thửa số 73, tờ bản đồ 11 diện ticfhs 491m2 và thửa số 127, tờ bản đồ 12 diện tích 108m2, thuộc địa giới hành chính xã Vũ Ph, thành phố Thái Bình. Ông H đã ký nhận đủ số tiền bồi thường và không khiếu nại gì đối với Quyết định thu hồi đất. (BL 55).

Như vậy, việc ban hành Quyết định số 13577/QĐ-UBND của UBND thành phố Thái Bình thực hiện theo đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục, thời hạn quy định Luật đất đai năm 2013.

Về nội dung:

Đối với ý kiến cho rằng phải thỏa thuận giá đất khi bồi thường, việc áp giá bồi thường không đảm bảo công bằng giữa các hộ dân:

- Căn cứ Quyết định số 568/QĐ-UBND ngày 28/3/2014 của UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án đường Kỳ Đồng kéo dài từ đoạn đường Trần Thủ Độ đến Quốc lộ 10 theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao; căn cứ Văn bản số 3032/BXD-PTĐT ngày 24/11/2014 của Bộ Xây dựng cho ý kiến thống nhất về đề xuất chấp thuận đầu tư tại 02 dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph và phát triển nhà 2 bên đường Kỳ Đồng kéo dài; Văn bản số 109/BXD-PTĐT ngày 20/1/2015 của Bộ Xây dựng về việc đề nghị cho phép nhà đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có hạ tầng, Tờ trình số 315/TTr-TL ngày 11/5/2017 của Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long về đề nghị chấp thuận đầu tư dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph … UBND tỉnh Thái Bình đã có Văn bản số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 cho phép Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long xây dựng hạ tầng kỹ thuật, nhà ở thương mại, công trình thương mại - dịch vụ, công trình hạ tầng xã hội, chung cư nhà ở xã hội tại Dự án khu dân cư Vũ Ph, thành phố Thái Bình dưới hình thức Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Công ty Thăng Long là công ty đầu tư được nhà nước ký hợp đồng để xây dựng công trình hạ tầng, không phải là công ty tư nhân tự đứng ra thu mua đất của người dân nên việc ông H cho rằng giá đất bồi thường phải được sự thỏa thuận nhất trí của người dân là không chính xác nên không có căn cứ chấp nhận.

- Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình: Do ông H không nhất trí với đơn giá bồi thường, hỗ trợ đã có khiếu nại đối với Quyết định số 13577/QĐ-UBND của UBND thành phố. Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình đã thụ lý khiếu nại, quyết định xác minh, tổ chức đối thoại và ngày 17/9/2020 ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Như vậy việc giải quyết bảo đảm về thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết theo quy định tại Điều 14, Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011, nhưng có vi phạm về thời hạn giải quyết theo quy định tại Điều 28 Luật khiếu nại năm 2011. Về nội dung quyết định: Do các quyết định phê duyệt dự án khu dân cư mới xã Vũ Ph đúng quy định của pháp luật nên khiếu nại của ông H đối với các quyết định này là không có căn cứ. Quyết định 3272 đã nhận định khiếu nại của đại diện các hộ dân là khiếu nại sai và quyết định giữ nguyên các quyết định phê duyệt dự án là có căn cứ đúng pháp luật. Riêng về thời hạn giải quyết có kéo dài do tính chất phức tạp của việc khiếu nại nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại nên không cần thiết phải huỷ Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông H hủy Quyết định số 3272 là không có căn cứ để chấp nhận.

- Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 520/QĐ-UBND ngày 05/2/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình: Do ông H và các hộ dân tiếp tục khiếu nại. Sau khi nhận đơn khiếu nại, Chủ tịch UBND tỉnh đã thụ lý và giao cho Sở TNMT xác minh nội dung khiếu nại, tổ chức đối thoại và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 520. Như vậy việc giải quyết bảo đảm về thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết theo quy định tại Điều 15, Điều 21 Luật khiếu nại năm 2011. Về nội dung giải quyết: Như đã phân tích ở trên, các quyết định phê duyệt dự án xây dựng khu dân cư mới xã Vũ Ph là đúng quy định của pháp luật do đó Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 520 giữ nguyên Quyết định số 3272 là phù hợp, tại Quyết định số 520 cũng xác định Quyết định số 3272 có vi phạm về thời hạn giải quyết nhưng cho rằng không ảnh hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại, không làm thay đổi bản chất vụ việc là đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn H.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Văn H phải chịu phí hành chính phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Trần Văn H; Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 42/2022/HC-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

2. Về án phí: Ông Trần Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0005219 ngày 29/11/2011 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình. Xác nhận ông H đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ