- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Minh Quân - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 363/2022/HS-PT Ngày: 31-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
2. Ông S Hồng Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 259/2022/HSPT ngày 28 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Phan Ngọc M.Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện H.M.N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Ngọc M.Q; Sinh năm: 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 94/3 ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh, huyện H.M.N, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ rửa xe; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Minh Ngà và bà: Nguyễn Ngọc Huyền Linh; Có vợ: Nguyễn Ngọc Nhung, sinh năm: 1997 và 03 người con, lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2020 đến ngày 05/02/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại ông Nguyễn X.T không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 17/01/2020 tại sân bóng đá thuộc ấp 3, xã Xuân Thới Sơn, huyện H.M.N, nhóm của Nguyễn X.T gồm X.T, X.P, X.Đ, Tuấn Anh và 03 người khác (không rõ nhân thân lai lịch) tham gia đá bóng với nhóm của M.P gồm M.P, Phan Ngọc M.Q và 04 người khác (đều không rõ nhân thân lai lịch). X.T có vai trò làm thủ môn. Khi đang đá hiệp 1 thì đội M.P được hưởng 01 quả đá phạt trực tiếp, lúc này Phan Ngọc M.Q đứng trước mặt X.T che lại để M.P đá phạt. X.T dùng tay đẩy M.Q ra thì M.Q nhìn X.T chằm chằm bực tức. Khi đá hết hiệp 1 thì M.Q ra nghỉ và thay quần áo. Sang hiệp 2 thì X.T lên đá, Tuấn Anh xuống làm thủ môn. Trong lúc đá, trọng tài thổi phạt bên X.T, hai bên đang dừng trận đấu thì M.Q và 02 người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch), mỗi người cầm 01 cây mã tấu xông đến chỗ X.T. M.Q xông vào chém, X.T né tránh được. M.Q tiếp tục lao vào chém X.T. X.T đưa tay lên đỡ thì bị trúng cổ tay trái và cùi trỏ tay phải, X.T đau quá dùng tay phải chụp lấy tay trái để cầm máu và bỏ chạy ra cổng thì bị một thanh niên (không rõ lai lịch) cầm 01 cục gạch ống bốn lỗ đánh vào vùng mặt bên trái làm chảy máu mũi. X.T tiếp tục chạy ra cổng thì bị 02 thanh niên (không rõ lai lịch) chặn đường, X.T dừng lại xin lỗi và xin cho đi cấp cứu thì M.Q chạy ra nói với X.T “mày xăm mình hả” và tiếp tục đánh vào vùng mặt X.T. X.T xin lỗi và xin M.Q cho X.T đi cấp cứu thì M.Q cho đi. X.Đ lấy xe máy chở X.T đi cấp cứu tại Phòng khám đa khoa X.T.T, sau đó chuyển lên bệnh viện Nhân dân 115 điều trị. Riêng cây mã tấu sau khi gây án xong trên đường đi về M.Q đã vứt bỏ nên Công an không thu giữ được. Tại Bản kết quả giám định pháp y thương tích số 815/TgT.19 ngày 20/3/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Kết quả giám định pháp y về thương tích của Nguyễn X.T: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: - Chấn thương đầu gây chảy máu mũi đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích. Có tỉ lệ 00%. Không đủ cơ sở để xác định hung khí. Vết thương phần mềm vùng mặt sau khuỷu tay phải gây đứt cơ tam đầu cánh tay đã được điều trị khâu cơ, hiện còn một sẹo kích thước 6,8x(0,1-0,4)cm (ảnh 1), tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 02%. Thương tích do vật sắc, vật nhọn tác động gây ra.
- Vết thương vùng mặt trong 1/3 giữa cẳng tay trái gây mẻ xương quay, gãy xương trụ trái (ảnh 2), khâu nối thần kinh, gân gấp, hiện còn: + Một sẹo chém và mổ kích thước 14,3x(0,05-0,3)cm (ảnh 4,5). + Tổn thương dây thần kinh trụ và dây thần kinh gian cốt sau trên điện cơ đồ. + Hình ảnh mu bàn tay vuốt trụ, hạn chế gấp duỗi cổ, bàn ngón một phần (ảnh 6,7), tê bờ trụ và mu bàn tay, teo cơ vùng gian cốt. Có tỉ lệ 24%. Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra Cộng lùi các tỉ lệ trên theo Thông tư 22/2019/TT- BYT sẽ ra tỉ lệ 25,52%, làm tròn số sẽ là 26%. 2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 26%. 3. Kết luận khác: Các thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2022/HS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện H.M.N, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ các điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Minh M.Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Ngọc M.Q 02 (hai) năm tù, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 04/9/2020 đến ngày 05/02/2021 là 05 (năm) tháng 05 (năm) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành là 18 (mười tám) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/3/2022 bị cáo Phan Ngọc M.Q làm kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phan Ngọc M.Q đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu nêu quan điểm về việc xét xử vụ án:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, nên chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy bị cáo Phan Ngọc M.Q có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Nguyễn X.T với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%. Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo 02 năm tù. Tuy nhiên cấp sơ thẩm không xem xét tình tiết tăng nặng hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ, theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, vì vậy xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù, đầu khung hình phạt là nhẹ, nhưng cấp phúc thẩm không làm xấu đi tình trạng của bị cáo do không có kháng cáo kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại, nhưng cũng không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Ngọc M.Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Lời khai của bị cáo Phan Ngọc M.Q tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn trong khi chơi đá bóng tại sân bóng đá thuộc ấp 3, xã Xuân Thới Sơn, huyện H.M.N, nên vào khoảng 19 giờ 30 ngày 17/01/2020 Phan Ngọc M.Q đã dùng cây mã tấu là hung khí nguy hiểm chém bị hại Nguyễn X.T trúng cổ tay trái và cùi trỏ tay phải, X.T bỏ chạy ra cổng thì bị một thanh niên (không rõ lai lịch) cầm 01 cục gạch ống bốn lỗ đánh vào vùng mặt bên trái làm chảy máu mũi. X.T tiếp tục bỏ chạy thì bị 02 thanh niên (không rõ lai lịch) chặn đường, X.T dừng lại xin lỗi và xin cho đi cấp cứu thì M.Q chạy ra nói với X.T “mày xăm mình hả” và tiếp tục đánh vào vùng mặt X.T, X.T xin lỗi và xin M.Q cho X.T đi cấp cứu thì M.Q cho đi. Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 815/TgT.19 ngày 20/3/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích của Nguyễn X.T: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 26%. Với hành vi trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phan Ngọc M.Q 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/3/2022 bị cáo Phan Ngọc M.Q làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm. [2] Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Phan Ngọc M.Q đã dùng hung khí nguy hiểm chém bị hại Nguyễn X.T gây ra thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Phan Ngọc M.Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Xuất phát từ việc cho rằng bị hại xô đẩy bị cáo trong khi chơi đá bóng, bị cáo đã kêu gọi đồng bọn (không xác định được lai lịch) đem hung khí tới, sau đó bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công gây thương tích cho bị hại, sau đó bị hại bỏ chạy, bị cáo tiếp tục đuổi theo dùng tay đánh vào mặt bị hại, trong khi bị hại không có bất kỳ phản kháng gì, cho đến khi bị hại chảy nhiều máu và xin cho đi cấp cứu bị cáo mới cho bị hại đi. Điều này thể hiện tính hung hăng côn đồ, ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe người khác của bị cáo, nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phan Ngọc M.Q, tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: Có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại được một phần, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, qua đó tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm tù, là mức thấp nhất của khung hình phạt. Mặt khác Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót là không xem xét tình tiết giữa bị cáo và bị hại chỉ có mâu thuẫn nhỏ trong sân đá bóng, nhưng bị cáo lại dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, đây là tình tiết tăng nặng, phạm tội có tính chất côn đồ, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, vì vậy xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù, đầu khung hình phạt là không phù hợp, chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên do chỉ có bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, không có kháng cáo kháng nghị gây bất lợi cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để tăng hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả xong cho bị hại được bị hại bãi nại, tuy nhiên mức án 02 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nhẹ, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc hưởng án treo của bị cáo Phan Ngọc M.Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc được hưởng án treo của bị cáo Phan Ngọc M.Q. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Ngọc M.Q 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam trước đây từ ngày 04/9/2020 đến ngày 05/02/2021. [2] Bị cáo Phan Ngọc M.Q phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND H.H.M.N; (1) - P.PC53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Thi hành án H.H.M.N; (2) - TAND H.H.M.N; (1) - Công an H.H.M.N; (1) - UBND nơi BC cư trú; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |