vanban.org

Bản án 363/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002228 ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị D và anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D ly hôn anh V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2019
V/v: Ly hôn giữa chị D và anh V

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành

Bà Phạm Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

Ngày 05 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà 3/17 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1990; nơi cư trú: số nhà 3/17 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định

Tại phiên tòa: Chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06-5-2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 04-02-2016 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng không có con chung và bất đồng về quan điểm sống; bản thân anh V không tu trí làm ăn, chơi bời, cờ bạc nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Cuối tháng 3 năm 2019 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ly thân từ thời gian đó đến nay. Chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn V.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung và không đề nghị giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ gì nên không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 20-5-2019 và tại phiên tòa bị đơn là anh Phạm Văn V trình bày thống nhất với chị Trần Thị D về điều kiện kết hôn. Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn theo anh vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và do anh ham chơi, không quan tâm đến vợ nên đã làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ ngày 26-4-2019 đến nay. Anh đã nhiều lần đến nói chuyện, thuyết phục để chị D quay về chung sống nhưng chị D kiên quyết không đồng ý. Tuy nhiên anh không đồng ý ly hôn vì vẫn còn yêu thương chị D.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung như chị D trình bày.

Về tài sản và công nợ chung: Anh V xác định vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên không đề nghị giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 02 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống của chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V phát sinh mâu thuẫn, cãi chửi nhau do vợ chồng không có con chung và bất đồng về quan điểm sống. Chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng ly thân kéo dài. Tại phiên tòa chị D giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn V. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị D, anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V xác định không có con chung và không đề nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn là chị Trần Thị D phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002228 ngày 08 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

3. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị D và anh Phạm Văn V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ