- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "P, T - O"
- Tòa quyết gì? Điều 180, Điều 182, Điều 183 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự ;
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 362/2019/DS-PT Ngày: 19/11/2019 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Liên Anh
Các thẩm phán:
Ông Mai Tiến Dũng
Bà Hoàng Thị Thu Lan
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Lưu Ly, Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Trần Thị
Ngoan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 319/2019/TLPT-DS ngày 04/10/2019 việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 355/2019/QĐ-PT ngày 30/10/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 441/2019/QĐPT- HPT ngày 11/11/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Hoàng Thu Phùng, sinh năm 1936
Địa chỉ: Số 30 Hàng Mã, quâ ̣n Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng: Ông Nguyễn Văn Hòa, sinh năm 1955; trú tại: Số 64, lô C , khu 7,2 ha phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 14/10/2019).
2. Bà Nguyễn Thị Tình, sinh năm 1940
Địa chỉ: Số 17 ngõ 100 Cổ Nhuế, TDP Trù 1, phườ ng Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của bà Tinh : Ông Nguyễn V ăn Quỳnh, sinh
̀
năm 1943; Nơi ĐKHKTT: Số 23 ngõ 43 đườ ng Cổ Nhuế, TDP Đống 1, Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 23/8/2017).
Bị đơn: Bà Đỗ Thị Oanh, sinh năm 1946
Địa chỉ: Số 1 ngõ 447 Phạm Văn Đồng, TDP Hoàng 14, phườ ng Cổ Nhuế 1, quâ ̣n Bắc Từ Liêm,thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Oanh : Ông Nguyễn Thanh Bách , sinh năm 1971 (Văn bản ủy quyền ngày 25/12/2018).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1947
Địa chỉ: Số 28, ngách 37 ngõ 145 phường Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội.
2. Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1947
Địa chỉ: Số 8, ngõ 104, phường Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội.
3. Bà Nguyễn Thị Lai, sinh năm 1957
Địa chỉ: Số 1 ngách 79 ngõ 273 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
4. Chị Nguyễn Kim Dung, sinh năm 1972
Địa chỉ: TDP Trù 2, Cổ Nhuế 2, Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
5. Chị Nguyễn Thị Tâm, sinh năm 1975
Địa chỉ: Số 119 Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
6. Anh Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1979
Địa chỉ: TDP Trù 2, Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
7. Chị Nguyễn Thị Bích, sinh năm 1981
Địa chỉ: Phòng 1207, E3A, ECOHOM1, phường Đông Ngạc, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
8. Ủy ban nhân dân quận Bắc Từ Liêm
Đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t : Ông Trần Thế Cương - Chủ tịch.
Đại diê ̣n theo ủy quyền: Ông Bùi Văn Hoàng - Công chứ c phòng tài nguyên môi trườ ng (Văn bản ủy quyền số 1193/18.3.2019).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Hòa, sinh năm 1955.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Tạ Quốc Long, Công ty luật TNHH Đức Bảo.
Do có kháng cáo của nguyên đơn ông Hoàng Thu Phùng và ông Nguyễn Văn Quỳnh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tình trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn ông Hoàng Thu Phùng trinh bày : Ông Hoàng Thu Ph ùng là
̀
con nuôi của cu ̣ Nguyễn Văn Đa ̣t và là anh của bà Nguyễn Thi ̣ Tinh . Diện tích
̀ 50m2 đất đang tranh chấp là của tổ Ngoại (cụ Nguyễn Văn Đạt cách tổ ngoại là 04 đời) giao cho con gái và con rể (là ông bà nội của cụ Đạt) để thờ cúng các cụ. Năm 1941, con cháu góp tiền xây miếu thờ khoảng 9m2. Theo truyền thống, sau khi bố mẹ mất thì giao đất lại cho các con. Vì vậy, năm 1959 - 1960, cụ Đạt đứng tên thử a đất này .Theo Trích lục bản đồ năm 1960 ghi chủ sử dụng “hậu họ Nguyễn Văn Đạt”. Năm 1999, liên ngoại họ Cao xin cung cấp Trích lục bản đồ năm 1960 để khởi kiện đòi đất. Khi đó ông không tham gia khởi kiện nhưng ông nghĩ đất vẫn là của cụ Đạt.Năm 1960 -1964, cụ Đạt và gia đinh thường xuyên thờ
̀ cúng tổ tiên. Năm 1964 cụ Đạt chết, giao lại việc thờ cúng cho hai em ruột là cụ Nguyễn Văn Phượng và cụ Nguyễn Văn Nhượng . Sau khi hai chú mất , các chú thúc bá trong họ tiếp tục thờ cúng. Ông không biết Trích lục bản đồ năm 1986 ghi chủ sử dụng đất là bà Chương , Doan cho đến năm 1997 khi bà Doan xây tườ ng ngăn khu đất, cụ Hiệp khởi kiện thì gia đình ông mới biết.Lý do gì chuyển đổi tên từ hâ ̣u ho ̣ Nguyễn Văn Đa ̣t sang bà Chương , Doan ông không biết . Sau khi phát hiê ̣n viê ̣c thay đổi tên trong trich lu ̣c bản đồ ông Nguyễn Văn Vâ ̣n có khiếu kiê ̣n
́ bà Doan lấn chiếm đất , thể hiê ̣n qua bản báo cáo về viê ̣c hòa giải ngày 15.10.1999 của Ủy ban nhân dân xã Cổ Nhuế.
Năm 1994, 50m2 đất nằm trong thửa đất số 21 mang tên bà Đỗ Thị Oanh nhưng đến năm 1997 gia đinh ông đi kiện t hì mới biết. Năm 1997, gia đinh ông
̀
̀ khởi kiện thì mới biết việc trích lục bản đồ các thời kỳ ghi sai như trên . Ông có khiếu nại nhưng Ủy ban nhân dân xã đã tổ chức nhiều buổi hòa giải và chỉ cấp trích lục bản đồ cho gia đinh ông . Năm 2000, Ông khởi kiện chia thừa kế của cụ
̀ Nguyễn Văn Đạt . Hiê ̣n ta ̣i thử a đất trên nằm trong Dự án mở rộng đường vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long theo Quyết đi ̣nh thu hồi đất số 3887/QĐ_UBND ngày 01/8/2018 và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ số 3894 ngày 01/8/2018 bồi thườ ng cho bà Oanh là không đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Ông yêu cầu đòi 50m2 đất của cu ̣ Đa ̣t cho ông và các đồng thừ a kế của cụ Đạt . Thực tế đất không còn nên ông yêu cầu đòi số tiền tương ứng với 50m2 đất.
Đại diê ̣n theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tình trình bày:
Ông đồng ý với trình bày của ông Phùng, đề nghị Tòa án buộc bà Oanh trả lại 50m2 đất để thờ cúng tổ tiên , hiê ̣n ta ̣i đất không còn nên ông yêu cầu đòi số tiền tương ứng với 50m2 đất đa bi ̣̃ thu hồi.
Bị đơn trình bày:
Khi cải cách ruộng đất, bà nội của bà Oanh là cụ Cao Thị Tám được chia đất là điếm canh (đầu ngõ Lĩnh) nhưng cụ không ở mà mua đất của ông Hai Cháu. Ông Hai Cháu cho cụ Tám 120m2 đất. Phần đất được cho là bãi đất hoang, có bia thờ ghi của họ Cao và miếu đổ nát khoảng 5,9m2. Miếu thờ là do bố bà Oanh xây dựng lại sau cải cách ruộng đất (bà Oanh không nhớ rõ năm) do cụ Tám bảo phải xây cho cụ miếu thờ có diện tích đủ để quan tài của cụ sau này. Thử a đất bà Oanh đang ở là do bà nô ̣i là cu ̣ Cao Thi ̣ Tám để la ̣i , sau khi cu ̣ Tám chết thi bà Doan là
̀ con gái út của cu ̣ Tám về sinh sống và quản lý
. Năm 1994 bà Doan làm giấy chuyển quyền sử du ̣ng đất và nhà ở ta ̣i đi ̣a chi tr ên cho bả
̀ Oanh, bà Oanh đã nộp thuế đất từ năm 1992 đến nay. Bà Oanh không rõ vì sao trích lục bản đồ năm 1960 ghi chủ sử dụng là hậu họ Nguyễn Văn Đạt . Năm 1986, bà Chương (chị ruột của bà Doan ), bà Doan (cô ruột của bà Oanh ) đứng tên chủ sử dụng đất 100m2. Năm 1994, đo lại đất bằng máy là 114m2, bà Oanh là chủ sử dụng đất do bà Doan tặng cho.Từ trước đến nay, không có ai đến thờ cúng cho đến năm 2006, liên ngoại họ Cao khởi kiện đòi 50m2 đất trên có miếu và bia thờ sau đó nguyên đơn đa rũ ́t đơn khở i kiê ̣n và vu ̣ án đa đĩ nh chỉ. Gia đình bà Oanh đã ăn ở ổn định,
̀
có tên trong hồ sơ địa chính và đóng thuế đất hàng năm . Vì vậy, bà Oanh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hiện nay thử a đất đa bi ̣̃ Nhà nước thu hồi theo Dự án mở rộng đường vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long theo Quyết đi ̣nh thu hồi đất số 3887/QĐ_UBND ngày 01/8/2018, nên không còn thử a đất trên nữa . Vớ i yêu cầu của nguyên đơn bà Oanh đề nghi ̣ Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
Người có quyền lợi và nghia vụ liên quan đại diê ̣n UBND quận Bắ c Từ
̃ Liêm trinh bày:
̀
Về nguồn gốc sử dụng đất: Theo Phiếu xác nhận nguồn gốc đất số 1322/PXN-UBND ngày 26/4/2017 của UBND phường Cổ Nhuế 1, diện tích đất tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63, bản đồ đo vẽ năm 1994 tại xa Cỗ ̉ Nhuế nay là phường Cổ Nhuế 1 có nguồn gốc là đất ở của hộ gia đình bà Đỗ Thị Doan đã sử dụng để ở ổn định trước ngày 15/10/1993. Ngày 18/5/1995, bà Đỗ Thị Doan có đơn xin chuyển quyền sử dụng nhà ở và đất ở, chuyển quyền quản lý, sử dụng nhà và 100m2 đất ở tại thửa đất số 85, tờ bản đồ số 9, bản đồ đo vẽ năm 1986 cho bà Đỗ Thị Oanh (giấy tờ có xác nhận của UBND xã Cổ Nhuế ngày 11/7/1995). Sổ kiểm kê năm 2000 đã thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63 nêu trên là bà Đỗ Thị Oanh.
Thực hiện dự án Mở rộng đường vành đai III (đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long), ngày 12/10/2016, tổ công tác dự án đã lập Biên bản điều tra hiện trạng sử dụng đất phục vụ công tác GPMB dự án tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63 đối với người đang sử dụng đất là bà Đỗ Thị Oanh xác định: Tổng diện tích đất đang sử dụng: 114m2; Diện tích đất nằm trong chỉ giới GPMB: 111,7m2; Diện tích đất nằm ngoài chỉ giới GPMB: 2,3m2. Ngày 26/4/2017, UBND phường Cổ Nhuế 1 đã có Phiếu xác nhận nguồn gốc sử dụng đất tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63, xác định người sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất là bà Đỗ Thị Oanh. Ngày 01/8/2018, UBND quận Bắc Từ Liêm đã ban hành Quyết định số 3887/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 3894/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với bà Đỗ Thị Oanh khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Mở rộng đường vành đai III (đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long). Việc UBND Quận ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đối với bà Đỗ Thị Oanh là phù hợp với hồ sơ GPMB và xác nhận nguồn gốc đất của UBND phường Cổ Nhuế 1. Ngày 05/10/2018, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm có văn bản số 445/CV-TA đề nghị UBND quận Bắc Từ Liêm dừng việc chi trả tiền bồi thường cho bà Đỗ Thị Oanh do thửa dất đang có tranh chấp giữa ông Hoàng Thu Phùng và bà Đỗ Thị Oanh (diện tích tranh chấp là 50m2 thuộc diện tích đất nằm trong chỉ giới GPMB thực hiện dự án). Ngày 05/12/2018, UBND quận Bắc Từ Liêm có văn bản số 5327/UBND-TNMT đề nghị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thống nhất việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị Oanh đối với diện tích nằm trong chỉ giới GPMB thực hiện dự án (nằm ngoài phần diện tích 50m2 đang có tranh chấp).Ngày 05/12/2018, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã có văn bản số 535/CV-TA phúc đáp văn bản số 5327/UBND-TNMT nêu trên của UBND quận Bắc Từ Liêm với nội dung: “Đề nghị UBND quận Bắc Từ Liêm thực hiện việc chi trả tiền bồi thường hỗ trợ theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự trong vụ án cho đến khi Tòa án có Quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.”Căn cứ các quy định pháp luật, ý kiến của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tại văn bản số 535/CV-TA ngày 05/12/2018, UBND quận Bắc Từ Liêm đã thực hiện chỉ trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị Oanh đối với phần diện tích đất không có tranh chấp. Đối với giá trị bồi thường, hỗ trợ của diện tích 50m2 đất có tranh chấp, Ban quản lý dự án Quận đã chuyển vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc. Sau khi có Bản án của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Hoàng Thu Phùng và bà Đỗ Thị Oanh, UBND quận sẽ chỉ đạo các đơn vị chuyên môn xem xét xử lý giá trị bồi thường, hỗ trợ của diện tích đất 50m2 hiện có tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghia vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hiền trinh bày:
̃
̀
Bố me ̣ chồng bà Hiền là cu ̣ Nguyễn Văn Đa ̣t mất năm 1963 và cụ Văn Thị Tú mất năm 1960, các cụ có 04 ngườ i con là Nguyễn Đinh Vâ ̣n (chồng bà Hiền),
̀ bà Nguyễn Thị Liên , bà Nguyễn Thị Lai , và ông Hoàng Thu Phùng là con nuôi . Bà Hiền với ông Vận có 04 ngườ i con là : Nguyễn Thi ̣ Dung , Nguyễn Thi ̣ Tâm, Nguyễn Ngo ̣c Tú , Nguyễn Thi ̣ Bich. Thực hiê ̣n di nguyê ̣n của ông Vâ ̣n để la ̣i nên
́ khi ông Vâ ̣n mất năm 2005, các bà Liên và bà Lai đã đến nhà bà Hiền cùng thống nhất không khở i kiê ̣n quyền sử du ̣ng đất thử a đất số 376, diê ̣n tich 50m2 tại số 1
́ ngõ 447 đườ ng Pha ̣m Văn Đồng mang t ên cu ̣ Nguyễn Văn Đa ̣t . Mă ̣c dù thử a đất mang tên cu ̣ Đa ̣t nhưng thực tế là của cu ̣ ngoa ̣i 5 đờ i để la ̣i chứ không phải là tài sản thừa kế của cụ Đạt , trách nhiệm của những người ở trên đất là thờ cúng tổ tiên. Nay vớ i yêu cầu khởi kiện của ông Phùng bà Tình, bà Hiền không đồng ý và xác định không liên quan gì , nếu Tòa án chấp nhâ ̣n đơn khở i kiê ̣n thi bà xin từ
̀ chối quyền lợi, đề nghị Tòa án không đưa bà và các con vào tham gia tố tụng, còn luâ ̣t quy đi ̣nh bắt buô ̣c thi bà cùng các con xin vắng mă ̣t trong tất cả các buổi làm
̀ viê ̣c.
Người có quyền lợi và nghia vụ liên quan bà Nguyễn Thị Lai trinh bày:
̃
̀
Bà là con gái của cụ Nguyễn Văn Đạt và cụ Văn Thị Tú , cụ Tú và cụ Đạt có 04 ngườ i con là Nguyễn Đinh Vâ ̣n , bà Nguyễn Thị Liên , bà Nguyễn Thị Lai , và
̀ ông Hoàng Thu Phùng là con nuôi. Trướ c khi bà Lai lâ ̣p gia đinh bà sống cùng bố
̀ mẹ và anh chị em tại số 28 ngách 37 ngõ 145 đườ ng Cổ Nhuế, phườ ng Cổ Nhuế 2, quâ ̣n Bắc Từ Liêm , thành phố Hà Nội . Từ khi còn nhỏ đến khi lớ n lên không nghe ai nói đến thử a đất này . Đến khi ông Phùng và bà Tinh khở i kiê ̣n ra Tòa án
̀ bà mới biết có thửa đất này , do vâ ̣y bà không biết về nguồn gốc đất . Bà Lai xác đi ̣nh không liên quan gi đến khối tài sản và đề nghi ̣ Tòa án không đưa bà vào
̀ tham gia tố tu ̣ng và xin vắng mă ̣t trong tất cả các buổi làm viê ̣c.
Người có quyền lợi và nghia vụ liên quan bà Nguyễn Thị Liên trinh bày:
̃
̀
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phùng và bà Tình để đòi diện tích đất tại số 01 ngõ 447 Phạm Văn Đồng , bà Liên xác định không liên quan , không có ý kiến về viê ̣c khở i kiê ̣n . Đề nghi ̣ Tòa á n không triê ̣u tâ ̣p và bà từ chối tham gia tố tụng trong vụ án này.
Người có quyền lợi và nghia vụ liên quan chi ̣ Nguyễn Thi ̣ Thanh Tâm ,
̃ chị Nguyễn Kim Dung, anh Nguyễn Ngọc Tú , chị Nguyễn Thị Bích cùng trình bày: Chị Tâm, chị Dung, anh Tú , chị Bích là con của ông Nguyễn Đình Vận và bà Nguyễn Thị Hiền, các anh chị đồng ý với ý kiến của bà Hiền và cùng xác định không liên quan đến vu ̣ án nên từ chối tham gia tố tu ̣ng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Hoàng Thu Phùng và bà Nguyễn Thi ̣ Tinh.
̀
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Hoàng Thu Phùng và ông Nguyễn Văn Quỳnh là nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tình kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phùng trình bày: Thửa đất 376 đứng tên cụ Nguyễn Văn Đạt, tài liệu chứng minh gồm có trích lục bản đồ 1960; Công văn số 2075/ UBND-ĐC ngày 04/7/2017; Công văn số 709/CV-UBND ngày 16/5/2019 của UBND phường Cổ Nhuế 1; miếu thờ xây dựng trên đất bên trong có bia đá. Nội dung văn bia khẳng định thửa đất 50m2 là do các cụ con gái họ Cao cùng các cháu ngoại tạo lập tự năm 1941 làm nơi thờ cúng, do các cụ không có con trai nối dõi. Theo tập quán, cụ Đạt là cháu trưởng của cụ gái cả, vai cao nhất trong số các cháu ngoại, được giao quản lý thửa đất để chủ trì việc cúng giỗ hàng năm (hậu họ). Việc xác lập quyền và nghĩa vụ trên đã được hợp pháp hóa thông qua việc đăng ký với chính quyền địa phương, cụ Đạt đã đứng tên thửa đất số 376 trong sổ Mục kê và bản đồ địa chính năm 1960. Đến nay gia đình và dòng họ không ai phản đối như vậy cụ Đạt có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với thửa đất 376 theo quy định tại Luật đất đai 2013 và Bộ luật dân sự 2015. Do đó các con của cụ Đạt có quyền thừa kế đối với thửa đất này. Gia đình bà Oanh chiếm hữu không có căn cứ, không được coi là chiếm hữu ngay tình. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tình nhất trí với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phùng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do cụ Cao Thị Tám để lại. Trích lục bản đồ 1986 mang tên bà Chương (chị ruột bà Doan), bà Doan (cô ruột bà Oanh). Năm 1994 bà Doan làm giấy chuyển quyền sử dụng cho bà Oanh, bà Oanh là người đóng thuế đất từ năm 1992 đến nay. Trích lục bản đồ 1994 thể hiện chủ sử dụng đất là bà Oanh. Nguyên đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ xác định thửa đất tranh chấp là di sản của cụ Nguyễn Văn Đạt, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án công bố lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và nguyên đơn tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Phùng và ông Nguyễn Văn Quỳnh là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tình kháng cáo trong hạn luật định, về hình thức là hợp lệ.
Về nội dung:
Nguyên đơn khở i kiê ̣n cho rằng quyền sở hữu diê ̣n tich đất 50m2 tại số 1 ngõ
́ 447 đườ ng Pha ̣m Văn Đồng , TDP Hoàng 14, phườ ng Cổ Nhuế 1, quâ ̣n Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thuộc quyền quản lý sử du ̣ng của cu ̣ Nguyễn Văn Đa ̣t là bố của ông Phùng và bà Tinh . Bà Đỗ Thị Oanh nhận chuyển giao từ bà Đỗ Thị
̀ Doan thử a đất diê ̣n tich 100m2 số thử a 85, tờ bản đồ số 9 lâ ̣p năm 1986 trong đó
́ có 50m2 của cụ Đạt. Nguyên đơn không biết viê ̣c bà Doan tự ý kê khai nhâ ̣n thử a đất số 376 nhâ ̣p vào thử a đất của minh thành thử a đất số 85 tờ bản đ ồ số 9 vớ i
̀
diê ̣n tich 100m2, đến năm 1994 thì diện tích 128m2.
́
Qua xac minh ta ̣i Ủ y ban nhân dân phương Cổ Nhuế 1, quâ ̣n Bắc Tư Liêm,
́
̀
̀ Hà Nội cũng như tại các văn bản tài liệu có trong hồ sơ thể hiện : Theo trich lu ̣c
́ bản đồ năm 1960 tại tờ bản đồ số 7, số thử a 376 diê ̣n tich 50m2, chủ sử dụng Hậu
́ họ Nguyễn Văn Đạt, loại đất TU. Theo trich lu ̣c bản đồ năm 1986 tại tờ bản đồ số
́
9, số thử a 85 có diện tích 100m2, chủ sử dụng bà Chương , Doan. Theo trich lu ̣c
́ bản đồ năm 1994 tại tờ bản đồ số 63, số thử a 21 diê ̣n tich 128m2, chủ sử dụng là
́ bà Đỗ Thị Oanh.
Bà Hiền vợ ông Vận , bà Lai , bà Liên là con của cụ Nguyễn Văn Đa ̣t đều khẳng đi ̣nh mă ̣c dù thử a đất mang tên cu ̣ Đa ̣t nhưng thực tế là của cu ̣ ngoa ̣i 5 đờ i để lại chứ không phải là tài sản thừa kế của cụ Đạt , trách nhiệm của những ngườ i ở trên đất là thờ cũng tổ tiên , các bà cũng không biết gì về nguồn gốc thửa đất . Ông Vâ ̣n trướ c khi mất cũng có di nguyê ̣n mo ̣i ngườ i trong gia đinh không khở i
̀ kiê ̣n thử a đất này.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 65/DSPT ngày 20/4/2001 chia thừ a kế khối tài sản của cu ̣ Đa ̣t để la ̣i không thể hiê ̣n thử a đất số 376 thuô ̣c tài sản thừ a kế, tại bản án số 65 thể hiê ̣n tài sản thừ a kế của cu ̣ Đa ̣t là 688m2 đất thổ cư theo trích lục bản đồ năm 1960 thuô ̣c số thử a 118.
Từ năm 1986 thử a đất trên mang chủ sử du ̣ng bà Chương, Doan, bà Doan đã sử du ̣ng ổn đi ̣nh đến năm 1992 đa chuyển giao cho chã
́u là bà Đỗ Thi ̣ Oanh . Quá trình quản lý sử dụng bà Doan và bà Oanh c ó nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ và sử du ̣ng ổn đi ̣nh lâu dài từ năm 1986 đến nay. Năm 2006 có một nhóm ngườ i đa đa ̣̃ i diê ̣n cho Liên ngoa ̣i ho ̣ Cao khở i kiê ̣n đòi quyền sử du ̣ng thử a đất trên nhưng không có căn cứ nên đ ến tháng 8/2016 đa rũ ́t đơn khở i kiê ̣n , Tòa án đa ra quyết đi ̣̃
nh đinh chi vu ̣̉ án.
̀
Theo Phiếu xác nhận nguồn gốc đất số 1322/PXN-UBND ngày 26/4/2017 của UBND phường Cổ Nhuế 1, diện tích đất tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63, bản đồ đo vẽ năm 1994 tại phường Cổ Nhuế 1 có nguồn gốc là đất ở của hộ gia đình bà Đỗ Thị Doan đã sử dụng để ở ổn định trước ngày 15/10/1993. Sổ kiểm kê năm 2000 đã thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 63 nêu trên là bà Đỗ Thị Oanh, đủ điều kiê ̣n được bồi t hườ ng về đất khi Nhà nước thu hồi căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và điều 75 Luâ ̣t đất đai.
Tại biê n bản thẩm đi ̣nh giá ngày 10/11/2017, mă ̣c dù là ngườ i khở i kiê ̣n nhưng nguyên đơn la ̣i không chi ra đượ̉
c ranh giớ i đất đang tranh chấp ở vi ̣ tri
́ nào trong tổng diện tích 128m2 đất bà Oanh đang quản lý.
Mặt khác, nguyên đơn có lời khai xác định diện tích 50m2 đất đang tranh chấp là của tổ Ngoại (cụ Nguyễn Văn Đạt cách tổ ngoại là 04 đời) giao cho con gái và con rể (là ông bà nội của cụ Đạt) để thờ cúng các cụ. Năm 1941, con cháu góp tiền xây miếu thờ khoảng 9m2. Theo truyền thống, sau khi bố mẹ mất thì giao đất lại cho các con, vì vậy năm 1959 - 1960, cụ Đạt đứng tên thử a đất này . Tài liệu do UBND xã cung cấp theo trich lu ̣c bản đồ năm 1960 tại tờ bản đồ số 7, số
́
thử a 376 diê ̣n tich 50m2, chủ sử dụng Hậu họ Nguyễn Văn Đa ̣t, không ghi nhận
́ là của cụ Nguyễn Văn Đạt.
Như vậy, tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ xác định thửa đất tranh chấp là di sản của cụ Nguyễn Văn Đạt theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai và các quy định pháp luật về thừa kế của BLDS. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 180 , điều 182 , điều 183 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự ; Điều 100, Điều 203 Luật đất đai không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Phùng và bà Tinh là có căn cứ.
̀
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phùng và ông Nguyễn Văn Quỳnh đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tình.
Về á n phí: Do ông Hoàng Thu Phùng và bà Nguyễn Thị Tình đều là người cao tuổi nên áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸n phÝ và lÖ phÝ Toµ ¸n miễn án phí dân sự sơ thẩm , dân sự phúc thẩm cho ông Phùng , bà Tình. Ông Phùng bà Tình được nhận lại dự phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên ,áp dụng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 180, Điều 182, Điều 183 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự ;
- Điều 100, Điều 203 Luâ ̣t Đất đai ;
- Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thu Phùng và bà Nguyễn Thi ̣ Tinh.
̀
2. Về án phí : Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm , phúc thẩm cho ông Hoàng Thu Phùng và bà Nguyễn Thi ̣ Tinh. Ông Phùng và bà Tinh được nhận lại 300.000
̀
̀ đồng tạm ứng án phí dân sự theo Biên lai số AB/2014/05217 ngày 20/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội; - TAND quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - Các đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Liên Anh |