vanban.org

Bản án 360/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo cho UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Thị Lan H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 360/2022/HS-ST
Ngày: 21 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Kim Hoa

2. Ông Hồ Đức Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 364/2022/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 471/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Lan H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1971 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: khối T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành C (đã chết) và con bà: Phạm Thị Hồng V; Chồng: Vũ Khắc L, sinh năm: 1968; Con: Có một con sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Trần Thị T, sinh năm 1975 (có mặt)

Nơi ĐKNKTT: xóm B, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Nơi ĐKNKTT: xóm B, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 22/3/2022, chị Trần Thị T, sinh năm 1975 và anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1996, đều trú tại xóm B, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An điều khiển xe tải chở hàng, loại 1,25 tấn BKS 37C – 252.59 từ xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An đến khu vực chợ Đ thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An để lấy hàng. Khi chị T và anh A đến ki ốt bán mía của Nguyễn Thị Lan H tại dãy ốt ở đường N, khối A, phường H, thành phố V để lấy hộ mía cho người quen. Sau khi chuyển mía lên xe, chị T đang đứng trong thùng xe để xếp mía thì H có cầm 01 (một) con dao dùng để rọc mía 02 lưỡi bằng sắt, cán bằng gỗ có chiều dài khoảng 25 cm nhờ chị T gửi cho bạn hàng ở N. Khi đó, chị T nói H “quăng lên đó” ý là quăng lên thùng xe, H hỏi tiếp “mai mần răng mà thấy mà đưa cho hấn” thì chị T tiếp tục có thái độ khó chịu và nói “không quăng lên đó thì dắt trong người à”. Lúc này, giữa chị T và H có lời qua tiếng lại với nhau. Sau đó H đang đứng trên mặt đường phía sau xe ô tô 37C – 252.59, vị trí cách mép sau thùng xe 0,8 m, cách mép trái thùng xe 1,1 m và nhìn thấy chị T đang đứng trong thùng xe nhưng đã cầm con dao ném lên thùng xe về phía chị T. Khi đó chị T đang đứng trong thùng xe ô tô 37C – 252.59, vị trí cách mép sau thùng xe 1,5 m, cách mép bên trái thùng xe 0,9 m nên đã bị con dao Hương ném trúng vào cổ tay phải của chị T gây thương tích phải đi bệnh viện cấp cứu. Hậu quả chị T bị 01 (một) vết thương ở mặt trước trong cổ tay phải, đứt bó mạch thần kinh trụ, đứt gân gấp cổ tay trụ, đứt gân gấp ngón 4,5 và phải phẫu thuật khâu nối mạch thần kinh, khâu nối gân.

Ngày 22/3/2022, chị Trần Thị T đã có đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của Nguyễn Thị Lan H.

Ngày 04/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể cho chị Trần Thị T. Tại các biên bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 161/TTPY ngày 12/4/2022, số 210/TTPY ngày 14/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị Trần Thị T tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm); một vết thương trước trong cổ tay bên phải, đứt gân gấp cổ tay trụ, đứt bó mạch, đứt gan gấp nông các ngón và đứt bó mạch thần kinh trụ là do vật sắc tác động gây nên. Có chiều hướng từ trước ra sau”.

- Về thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án: 01 (một) con dao có chiều dài khoảng 25 cm, cán làm bằng gỗ, có hai lưỡi dao, làm bằng kim loại, mỗi lưỡi dài khoảng 15 cm, lắp song song với nhau, ở hai đầu lưỡi dao được cố định bằng ốc vít kim loại.

- Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Lan H đã bồi thường đầy đủ cho chị Trần Thị T. Chị T đã nhận đủ số tiền bồi thường, có đơn xin bãi nại miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Lan H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 372/CT-VKS-TPV ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thị Lan H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Lan H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy con dao là hung khí gây thương tích cho người bị hại.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại không tranh luận gì mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Lan H đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 22/3/2022, tại khu vực ki ốt bán mía ở đường N thuộc khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, do có mâu thuẫn cự cãi với nhau về việc gửi con dao gọt vỏ mía, Nguyễn Thị Lan H đứng dưới xe ô tô đã ném 01 (một) con dao gọt vỏ mía, là loại dao có hai lưỡi dao, làm bằng kim loại, mỗi lưỡi dài khoảng 15 cm, lắp song song với nhau lên xe ô tô về hướng chị Trần Thị T đang đứng trên xe ô tô, trúng vào cổ tay phải của chị Trần Thị T gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 18 % (Mười tám phần trăm). Xét bị cáo nhận thức được hành vi ném con dao là hung khí nguy hiểm về phía chị Trần Thị T có thể gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của chị T nhưng bị cáo để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tính chất vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại; người bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố bị cáo có công với cách mạng, là thương binh nên bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục như Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.

. Về xử lý vật chứng: Đối với con dao dùng để rọc mía, có chiều dài khoảng 25 cm, cán làm bằng gỗ, có hai lưỡi dao làm bằng kim loại, mỗi lưỡi dài khoảng 15 cm, lắp song song với nhau, ở hai đầu lưỡi dao được cố định bằng ốc vít kim loại là hung khí gây thương tích nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại chị Trần Thị T số tiền 83.000.000 đồng (Tám mươi ba triệu đồng). Chị T đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu đền bù gì thêm nên miễn xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Lan H 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/12/2022.

Giao bị cáo cho UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo, bị cáo Nguyễn Thị Lan H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy con dao dùng để rọc mía, có chiều dài khoảng 25 cm, cán làm bằng gỗ, có hai lưỡi dao làm bằng kim loại, mỗi lưỡi dài khoảng 15 cm, lắp song song với nhau, ở hai đầu lưỡi dao được cố định bằng ốc vít kim loại hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2023/65A.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan H phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ