vanban.org

Bản án 36

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 14/05/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

H

C

H

H CH

H

T M

T H M

c p – T do – H nh ph c B n án s : 36/2019/HS-PT Ngày: 14-5-2019

NHÂN DANH

C C

H

H CH

H

T M

TÒA ÁN NHÂN DÂN T H M NG

- Th phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Phan Minh Dũng

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 36/2019/TLPT-HS ngày 01-4-2019 đ i với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo T, kháng cáo của bị hại anh P, đ i với b n án hình sự sơ thẩm s s 01/2019/HS-ST ngày 21-01-2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn ăn T, sinh năm 1984 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn 4, xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1960 hiện đều cư trú thôn 4, xã Tiên Hoàng, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; vợ Dương Thị L, sinh năm 1984 và có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2006, hiện đều cư trú thôn 4, xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1991; nơi cư trú thôn 1, xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo T và bị hại anh Nguyễn Hữu P đều c máy gặt lúa liên hoàn Do bị hại anh P c mâu thuẫn với ng H, nên bị hại anh P kh ng cho ai vào gặt lúa cho ông H.

Ngày 20-11-2016, bị cáo T giao máy gặt lúa cho anh B và anh X đi gặt thuê g n ruộng nhà ng H, anh Th (anh em kết ngh a với ông H) đến chơi nhà ông H và Bết lúa của nhà ông H đã chín, đổ g n hết, nên anh Th nói với ông H “để em mượn máy gặt cho”. Do anh Th quen Bết với bị cáo T, nên anh Th điện thoại hỏi mượn máy gặt lúa thì bị cáo T đồng ý, nên anh B và anh X giao máy cho anh Th sau đ đi về ăn cơm trưa nh Th điều khiển máy gặt ong lúa cho ng H.

Bết máy của bị cáo T đã gặt lúa cho ông H, nên bị hại anh P đi ra ruộng lúa nhà ng H, sau đ điện thoại cho bị cáo T và chửi bới, bị cáo T h n íu nữa gặp n i chuyện au khi gọi điện thoại cho bị cáo T, bị hại anh P điện thoại rủ anh Huy (anh họ bị hại) c ng ra ruộng lúa Đến kho ng 16 giờ c ng ngày, bị cáo T điều khiển e ra khu vực ruộng lúa nhà ng H, trên đường đi bị cáo T b 01 cây g y g tràm tròn (đường kính 03cm dài 70cm); khi đến nơi, bị cáo T u ng e chửi nhau qua lại với bị hại anh P Do bực t c vì bị đe dọa, chửi bới; bị cáo T đã d ng cây g y vụt 01 cái vào ph n đ u bên trái, trượt u ng b vai của bị hại anh P, nên anh P lao vào gi ng co cây g y làm cây g y văng ra Ngay lúc đ , anh Trường (em trai của bị cáo) đi tới nhặt 01 đoạn cây g y g vu ng (dài 1.2m, kích thước 3.5cm x 3.5cm) bên ven đường vụt 01 cái vào cổ tay bị hại anh P làm cho anh P ngã ra đường Thấy v y, bị cáo T đi lại ch anh Tr gi ng lấy cây g y g t tay anh Tr và đẩy anh Tr ra và n i “không phải việc của mày” rồi c m cây g y vụt 02 cái vào v ng thái dương đỉnh trái và thái dương đỉnh ph i gây thương tích cho bị hại anh P au đ được mọi người can ngăn, anh P được đưa đi điều trị

Tại b n kết lu n giám định pháp y s 109/18/TgT ngày 14-8-2018 của Phân viện Viện khoa học pháp y qu c gia tại Thành ph Hồ Chí Minh kết lu n “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của bị hại anh Phước 09%, tổn thương do vật tày có cạnh trực tiếp gây nên”.

Về thiệt hại: Bị hại anh P yêu c u bị cáo bồi thường s tiền 122 755 000đ; trong đ các kho n chi phí điều trị, cấp c u theo h a đơn ch ng t 25 425 000đ; các kho n chi phí kh ng c ch ng t 97 330 000đ Bị cáo đã bồi thường s tiền 25 000 000đ; bị hại anh Ph yêu c u bồi thường tiếp s tiền 97 755 000đ

Tại b n án sơ thẩm s 01/2019/HS-ST ngày 21-01-2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên b bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c Hội; và kho n 3 Điều 7; điểm a kho n 1 Điều 134; điểm b, i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 2015).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 tháng t , cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm.

Về bồi thường thại hại: Buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại anh P s tiền 54 105 000đ Bị cáo đã bồi thường s tiền 25 000 000đ, còn ph i bồi thường tiếp s tiền 29 105 000đ

Ngoài ra, b n án còn xử lý v t ch ng, án phí tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu c u thi hành án theo quy định pháp lu t.

- Ngày 01-02-2019 bị hại anh P kháng cáo toàn bộ nội dung b n án.

- Ngày 01-02-2019 bị cáo kháng cáo xin gi m nh hình phạt, gi m m c bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, đề nghị Tòa án xem xét chấp nh n. Bị hại anh Phước giữ nguyên yêu c u kháng cáo và cho r ng anh H (anh họ bị hại) ch ng kiến còn có anh Tr, anh B, anh Th cùng với bị cáo T gây thương tích cho bị hại nhưng chưa được xử lý. Về hình phạt tuyên phạt bị cáo 12 tháng t cho hưởng án treo là nh , đề nghị T hình phạt. Về bồi thường thu nh p bị mất cấp sơ thẩm tính 200 000đ/ngày là thấp, trong khi đ bị hại làm nghề gặt lúa thu nh p 1 000 000đ/ngày; tuy kh ng c ch ng c nhưng là thu nh p thực tế nên buộc bị cáo bồi thường thu nh n bị mất cho bị hại 1 000 000đ/ngày

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn c kho n 1 Điều 348 của Bột lu t T tụng hình sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo T Đ i với kháng cáo của bị hại, đề nghị căn c điển a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ lu t T tụng hình sự; không chấp nh n kháng cáo của bị hại, giữ nguyên b n án sơ thẩm.

NHẬ ỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

[1] Xuất phát t việc bị hại anh Phước và ông H mâu thuẫn, nên bị hại anh P kh ng cho ai vào gặt lúa cho ông H. Khi Bết máy gặt lúa của bị cáo T đã gặt lúa cho ông H thì bị hại anh P điện thoại cho bị cáo T và chửi bới và bị cáo T h n gặp n i chuyện Đến kho ng 16 giờ ngày 20-11-2016, B cáo T điều khiển e ra khu vực ruộng lúa nhà ng H, trên đường đi bị cáo T b 01 cây g y g tràm tròn (đường kính 03cm dài 70cm); Khi đến nơi, bị cáo T u ng e chửi nhau qua lại với bị hại anh P, sau đ bị cáo T đã d ng cây g y vụt 01 cái vào ph n đ u bên trái, trượt u ng b vai của bị hại anh P, nên anh P lao vào gi ng co cây g y làm cây g y văng ra Ngay lúc đ , anh Trường (em trai của bị cáo) đi tới nhặt 01 đoạn cây g y g vu ng (dài 1.2m, kích thước 3.5cm x 3.5cm) bên ven đường vụt 01 cái vào cổ tay bị hại anh P làm cho anh P ngã ra đường Thấy v y, bị cáo T gi ng lấy cây g y g t tay anh Tr và đẩy anh Tr ra và n i “không phải việc của mày” rồi c m cây g y vụt 02 cái vào v ng thái dương đỉnh trái và thái dương đỉnh ph i gây thương tích cho bị hại anh P au đ được mọi người can ngăn, anh P được đưa đi điều trị Cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện ch ng c , v t ch ng; đ i chiếu lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, người lời khai anh Trường, anh H; kết lu n giám định ác định tỷ lệ thương t t của bị hại 9%; đã tuyên bổ bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” là c căn c .

Hành vi của bị cáo thực hiện dùng cây g thuộc hung khí nguy hiểm, gây thương tích ngày 20-11-2016, nên bị cáo bị áp dụng điểm a kho n 1 Điều 104 của Bộ lu t Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 1999). Do v y, khi xét xử c n so sách khung hình phạt và các tình tiết khác của kho n 1 Điều 104 Bộ lu t Hình sự năm 1999, với kho n 1 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 Trong trường hợp khung hình phạt của kho n 1 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 thấp hơn so với khung hình phạt kho n 1 Điều 104 của Bộ lu t Hình sự năm 1999 thì mới áp dụng Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c Hội; kho n 3 Điều 7 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; điểm a kho n 1 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 đ i với bị cáo mới đúng Tuy nhiêm, khung hình phạt của kho n 1 Điều 104 của Bộ lu t Hình sự năm 1999 và khung hình phạt kho n 1 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 đều gồng nhau “cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do v y, c n sửa b n án sơ thẩm, áp dụng điểm a kho n 1 Điều 104 của Bộ lu t Hình sự năm 1999 đ i với bị cáo.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của bị hại, đ i chiếu với tài liệu ch ng c thể hiện:

- Đ i với kháng cáo của bị cáo T, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo; căn c kho n 1 Điều 348 của Bột lu t T tụng hình sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i với kháng cáo của bị cáo T là phù hợp.

- Đ i với kháng cáo của bị hại về hình phạt; cấp sơ thẩm đánh giá nguyên nhân xuất phát t việc bị cáo cho mượn máy gặt lúa để anh Th gặt lúa cho ông H, trong khi đ bị hại anh Phước không mu n ai gặt lúa cho anh H, dẫn đến bị cáo điện thoại chửi bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết gi m nh quy định kho n 2 Điều 51 của Bộ lu t hình sự năm 2015 là c căn c . Ngoài ra, bị cáo Th khẩn khai báo; đã bồi thường 25 000 000đ/54 105 000đ ph i bồi thường theo b n án tuyên, nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết gi m nh quy định điểm b, i, s kho n 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 để quyết định m c hình phạt là thỏa đáng Bên cạnh đ bị cáo c nơi cư trú rõ ràng; nên cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 cho bị cáo được c i tạo ngoài xã hội, b o đ m kh năng bị cáo tự c i tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không nh hưởng xấu đến an ninh, tr t tự, an toàn xã hội là c căn c . Do v y, không chấp nh n kháng cáo của bị hại; giữ nguyên b n án sơ thẩm về hình phạt.

- Bị hại kháng cáo còn cho r ng anh H (anh họ bị hại) ch ng kiến anh Tr (em trai của bị cáo), anh B, anh Th cùng bị cáo T thực hiện hành vi gây thương tích là kh ng c căn c . Bởi lẽ giữa bị cáo và anh Tr không cùng mục đích ý trí; tuy anh Tr d ng cây đánh bị hại 01 cái vào cổ tay, trong khi đ thương tích của bị hại do bị cáo T gây ra. Mặt khác quá trình điều tra, bị hại anh P cũng cho r ng chỉ bị thương tích nh , không đề nghị ử lý đ i với anh Trường, nên Cơ quan Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đ i với anh Tr là phù hợp. Đ i với anh B, anh Th cũng đã được Cơ quan điều tra làm rõ đồng thời ác định anh B, anh Th không thực hiện hành vi vi phạm pháp lu t, nên không xử lý.

- Đ i với kháng cáo về bồi thường thiệt hại: Cấp sơ thẩm xem xét toàn bộ các kho n thiệt hại, buộc bị cáo bồi thường 54 105 000đ; trong đ bị hại ch ng minh thiệt hại thông qua các tài liệu h a đơn chi phí cấp c u, chữa trị thương tích cộng chung 25 425 000đ; Các kho n chi phí xuất viện về nhà 280 000đ; chi phí đi lại giám định 1 000 000đ; tiền e tái khám là 2 000 000đ; Thu nh p bị mất của người nu i dưỡng 2 200 000đ (11 ngày x 200.000đ/ngày); Bồi bồi dưỡng s c khỏe 2 200 000đ; Tổn thất tinh th n 15 000 000đ là ph hợp.

Đ i với kho n thiệt hại thu thu nh p bị mất, bị hại bị hại kháng cáo cho r ng bị hại làm nghề gặt lúa, sau khi tr chi phí thu nh p 1 000 000đ/ngày nhưng không xuất trình ch ng c . Cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo bồi thường 6 000 000đ tương ng 200 000đ/1 ngày 30 ngày là ph hợp hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 mục 1 ph n II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Do v y, không chấp nh n kháng cáo của bị hại; giữ nguyên b n án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo T, bị hại anh Phước không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ỊNH:

Căn c kho n 1 Điều 348; điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ lu t T tụng hình sự; kh ng chấp nh n kháng cáo của bị hại anh Nguyễn Hữu P; giữ nguyên b n án sơ thẩm Xử:

1 Đình chỉ xét xử phúc thẩm đ i v i kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T;

2. Tuyên b bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “C ý gây thương tích” Áp dụng kho n 1 Điều 104 của Bộ lu t Hình sự năm 1999; điểm b, i, s kho n 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ lu t Hình sự năm 2015

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 tháng t , cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án sẽ được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Hữu P s tiền 54 105 000đ Bị cáo đã bồi thường s tiền 25 000 000đ, còn ph i bồi thường tiếp s tiền 29 105 000đ

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Căn c Điều 99 Bộ lu t T tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại anh Nguyễn Hữu P không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ