vanban.org

Bản án 36/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh D phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Trần Thị Thanh D 10.000.000 (mười triệu) đồng. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh D - môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh D phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2026/HS-ST
Ngày: 20/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Trúc Linh

2. Ông Nguyễn Tống Nê

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2026/TLST-HS ngày 21/01/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2026/QĐXXST-HS ngày 27/02/2026 đối với bị cáo:

Trần Thị Thanh D sinh ngày 12/10/1986 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: số B, khu phố P, phường P, tỉnh Vĩnh Long; căn cước công dân số: 083186006858; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: mua bán; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đào Thị L, họ tên cha không rõ; bị cáo chưa có chồng; con: có 01 người con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/01/2026 bị Công an tỉnh V xử phạt hành chính số tiền 400.000 đồng về hành vi “Bán dâm” (Quyết định số 0022669/QĐ-XPHC). Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/11/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Thúy H, sinh năm 2004; nơi cư trú: ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

2. Lâm Ngọc H1, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp L, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

3. Nguyễn Thanh P, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp P, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt:

Trần Thị Thanh D làm nghề mua bán hàng hoá Online và là người bán dâm cho khách nam. Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 14/11/2025, D nhận được tin nhắn từ tài khoản zalo tên “Acbi.Bkhvu.1t” của Nguyễn Thanh P có ý định mua dâm D, D đồng ý, D đề nghị P đến nhà nghỉ lấy phòng rồi thông báo để D đến bán dâm. Cùng khoảng thời gian này, Lâm Ngọc H1 (thường gọi là T) sử dụng tài khoản zalo tên “Ateo.BklVuL1/5” gọi điện và nhắn tin cho D đề nghị D giới thiệu người để H1 mua dâm. D giới thiệu và gửi hình ảnh của Phạm Thúy H là bạn của D và D báo giá tiền mua dâm H là 2.000.000 đồng, H1 đồng ý. D yêu cầu H1 chọn nhà nghỉ và đến lấy phòng trước, sau đó thông báo địa điểm cho D. Khoảng 15 giờ 05 phút cùng ngày, H1 nhắn tin cho D biết H1 đã thuê Phòng P.VIP02 nhà nghỉ N ở Khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long. Duyên điện thoại và nhắn tin cho H biết địa điểm và giá tiền bán dâm là 2.000.000 đồng, H thoả thuận sẽ cho D 700.000 đồng là tiền công giới thiệu. Sắp xếp xong, D đến Phòng B ở Khu phố C, phường P, tỉnh Vĩnh Long bán dâm cho P, D nhận được số tiền bán dâm 1.000.000 đồng sau đó P thực hiện hành vi quan hệ tình dục với D. H đến Nhà nghỉ N, vào Phòng P.VIP02, tại đây H1 chuyển khoản cho Hằng số tiền 2.000.000 đồng tiền mua dâm. Trong lúc H1 thực hiện hành vi quan hệ tình dục với H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V phát hiện, lập biên bản làm việc. H chưa đưa 700.000 đồng tiền môi giới cho D.

Cơ quan điều tra tạm giữ ở Phòng P.VIP02 Nhà nghỉ N: 01 (Một) quần lót nam màu đen; 01 (Một) mẫu lông, tóc; 01 (Một) dây áo ngực màu đen; 01 (Một) vỏ Bao cao su, Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ ở Phòng số B-4 Nhà nghỉ 89: 01 (Một) vỏ bao cao su và 01 (Một) Bao cao su đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Trần Thị Thanh D: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, số Imei1: 353263218583505, số Imei2: 359377378583503, bên trong gắn sim Số 0941867638 (sim 1) và 0933557370 (sim 2); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imei1: 353408117335974, số Imei2: 353409117335972, bên trong gắn sim Số 0968145227; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ, Số máy: JF66E0138144, Số khung: 5818GY138099, Biển kiểm soát: 71B3 – 284.26; 03 (Ba) Bao cao su chưa qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng, Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Phạm Thúy H: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số máy: MQ8WW3LL/A, số sê-ri: D9TJQX3GV4, số Imei1: 357397701146556, số Imei2: 357397701471798; Tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng , Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Lâm Ngọc H1: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu xanh, số Imei1: 351389222414122, số Imei2: 352682482414124, Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Thanh P: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số Imei1: 351094567518897, số Imei2: 355637747518892, Cơ quan điều tra chưa xử lý.

Tại Kết luận giám định Số 543/KL-KTHS-KV1 ngày 19/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy, trích xuất được 196 tin nhắn trong ứng dụng Zalo. Chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo, gồm 13 trang giấy A4.

Quá trình điều tra, Trần Thị Thanh D đã khai nhận hành vi phạm tội của D, lời khai của D phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản làm việc, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được.

Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSKV5 ngày 20/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo bị thu giữ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, bên trong gắn sim Số 0941867638 (sim 1) và 0933557370 (sim 2); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, bên trong gắn sim Số 0968145227; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ, Biển kiểm soát: 71B3 – 284.26; Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng. Bị cáo xin nhận lại điện thoại và xe, do hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo bán dâm và môi giới chỉ một lần cho H.

Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 3 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lót nam màu đen; 01 mẫu lông, tóc; 01 dây áo ngực màu đen; 02 vỏ Bao cao su, 01 Bao cao su đã qua sử dụng và 03 Bao cao su chưa qua sử dụng.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, số Imei1: 353263218583505, số Imei2: 359377378583503 của Trần Thị Thanh D; số tiền 2.000.000 đồng do Phạm Thúy H giao nộp; số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo D giao nộp.

Tịch thu tiêu hủy: sim thuê bao số 0941867638 và sim thuê bao số 0933557370 của Trần Thị Thanh D.

Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imei1: 353408117335974, số Imei2: 353409117335972, bên trong gắn sim Số 0968145227; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ, Số máy: JF66E0138144, Số khung: 5818GY138099, Biển kiểm soát: 71B3 – 284.26.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu xanh, số Imei1: 351389222414122, số Imei2: 352682482414124 là phương tiện Lâm Ngọc H1 dùng để liên hệ với bị cáo Trần Thị Thanh D để mua dâm Phạm Thúy H.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số máy: MQ8WW3LL/A, số sê-ri: D9TJQX3GV4, số Imei1: 357397701146556, số Imei2: 357397701471798 là phương tiện Phạm Thúy H dùng để liên hệ với bị cáo Trần Thị Thanh D để bán dâm cho Lâm Ngọc H1.

Trả lại Nguyễn Thanh P 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số Imei1: 351094567518897, số Imei2: 355637747518892 do không liên quan đến hành vi phạm tội ngày 14/11/2025.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/11/2025, Trần Thị Thanh D đã môi giới cho Phạm Thúy H bán dâm cho Lâm Ngọc H1 tại Phòng P.VIP02 Nhà nghỉ N ở Khu phố B, phường P, tỉnh Vĩnh Long với giá 2.000.000 đồng nhằm hưởng tiền hoa hồng môi giới 700.000 đồng nhưng H chưa đưa tiền cho D thì thì bị Cơ quan điều tra phát hiện lập biên bản.

Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo đã 01 lần thực hiện hành vi môi giới cho Phạm Thúy H bán dâm cho Lâm Ngọc H1 nhằm thu lợi bất chính số tiền 700.000 đồng (chưa nhận tiền). Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi bán dâm. Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Bị cáo có bà ngoại có công với đất nước, được tặng Bằng khen”, theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo môi giới mại dâm nhằm thu lợi bất chính nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là cần thiết.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lót nam màu đen; 01 mẫu lông, tóc; 01 dây áo ngực màu đen; 02 vỏ Bao cao su; 01 Bao cao su đã qua sử dụng; 03 Bao cao su chưa qua sử dụng; sim thuê bao số 0941867638 và sim thuê bao số 0933557370 của bị cáo Trần Thị Thanh D do có liên quan đến tội phạm.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, số Imei1: 353263218583505, số Imei2: 359377378583503 của Trần Thị Thanh D; số tiền 2.000.000 đồng do Phạm Thúy H giao nộp; số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Trần Thị Thanh D giao nộp do có liên quan đến tội phạm.

Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imei1: 353408117335974, số Imei2: 353409117335972, bên trong gắn sim Số 0968145227; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ, Số máy: JF66E0138144, Số khung: 5818GY138099, Biển kiểm soát: 71B3 – 284.26 của bị cáo Trần Thị Thanh D.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu xanh, số Imei1: 351389222414122, số Imei2: 352682482414124; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số máy: MQ8WW3LL/A, số sê-ri: D9TJQX3GV4, số Imei1: 357397701146556, số Imei2: 357397701471798 do liên quan đến tội phạm.

Trả lại Nguyễn Thanh P 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số Imei1: 351094567518897, số Imei2: 355637747518892 do không liên quan đến tội phạm.

Đối với hành vi bán dâm của bị cáo, các đối tượng mua dâm, đối tượng bán dâm, chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ để xảy ra hành vi mua bán dâm đã bị Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên ghi nhận. Đối với việc H khai bị cáo D còn môi giới cho H bán dâm 02 lần nhưng Cơ quan điều tra không chứng minh được sự việc này và bị cáo D không thừa nhận nên không xử lý là phù hợp nên ghi nhận.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh D phạm tội “Môi giới mại dâm”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo Trần Thị Thanh D 10.000.000 (mười triệu) đồng.

3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lót nam màu đen; 01 mẫu lông, tóc; 01 dây áo ngực màu đen; 02 vỏ Bao cao su, 01 Bao cao su đã qua sử dụng; 03 Bao cao su chưa qua sử dụng; sim thuê bao số 0941867638 và sim thuê bao số 0933557370 của Trần Thị Thanh D.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, số Imei1: 353263218583505, số Imei2: 359377378583503 của Trần Thị Thanh D; số tiền 2.000.000 đồng do Phạm Thúy H giao nộp; số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo D giao nộp; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu xanh, số Imei1: 351389222414122, số Imei2: 352682482414124; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số máy: MQ8WW3LL/A, số sê-ri: D9TJQX3GV4, số Imei1: 357397701146556, số I: 357397701471798.

Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imei1: 353408117335974, số Imei2: 353409117335972, bên trong gắn sim Số 0968145227; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ, Số máy: JF66E0138144, Số khung: 5818GY138099, Biển kiểm soát: 71B3 – 284.26 của bị cáo Trần Thị Thanh D. Sau khi thi hành xong tài sản còn thừa sẽ giao trả lại cho bị cáo.

Trả lại Nguyễn Thanh P 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02, màu đen, số Imei1: 351094567518897, số I: 355637747518892.

(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2026).

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị Thanh D nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ