vanban.org

Bản án 36/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 11/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 11 năm 2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TRẦN THẾ XUÂN H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2026/HS-ST
Ngày: 11.3.2026

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Thân

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3- Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Tường Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2026/HSST ngày 27 tháng 01 năm 2026; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2026/QĐXXST

- HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Trần Thế Xuân H, tên gọi khác: không, sinh ngày 17 tháng 01 năm 1998 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Nhà số K đường T, tổ A, phường T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Nguyễn Văn L (Sinh năm: 1968) và mẹ Nguyễn Thị Y (Sinh năm: 1975); bị cáo là con một trong gia đình. Hiện chưa có vợ con.

Tiền án: Không. Tiền sự:

- Ngày 20/08/2024, bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định 276/QĐ-XPHC.

- Ngày 15/11/2024, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng (từ ngày 25/10/2024) theo Quyết định số 92/2024/QĐ-TA.

Nhân thân:

- Ngày 03/8/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng (từ ngày 18/6/2017) theo Quyết định số 86/2017/QĐ-TA.

- Ngày 18/9/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt 06 tháng tù theo Bản án số 66/2018/HS-ST.

Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam C - Trại tạm giam 01 Công an thành phố Đ từ ngày 11.11.2025. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trần Thế Xuân H là đối tượng đối tượng nghiện ma túy, ngày 26/8/2025, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 814/QĐ-UBND ngày 26/8/2025 đối với Nguyễn Trần Thế Xuân H trong thời hạn từ ngày 25/7/2025 đến ngày 25/7/2027. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/9/2025, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Trần Thế Xuân H liên lạc trên mạng xã hội Facebook hỏi mua ma túy đá với một tài khoản không rõ lai lịch, hẹn giao dịch tại khu vực Cảng cá T. Nguyễn Trần Thế Xuân H đi bộ đến điểm hẹn tại kiệt đường bê tông đối diện Cảng cá T giao nhau với đường L, thành phố Đà Nẵng, X lấy ma túy từ 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và trả tiền mặt 300.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy và 01 ống thủy tinh, Xuân H đi đến đoạn giao nhau giữa đường N và đường T, xuống bãi đá kè bờ trên đường N, phường T, thành phố Đà Nẵng để sử dụng một mình hết ma túy. Tại đây, Xuân H lấy bật lửa có sẵn, đục 02 lỗ trên nắp chai nhựa loại 500 ml, gắn ống hút và nỏ thủy tinh gắn lên nắp chai nhựa, lấy gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt ma túy tạo thành khí khói rồi dùng miệng hút khí bay ra. Sau khi sử dụng xong, Xuân H vứt bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống biển rồi ngủ ngoài biển. Đến khoảng 13 giờ 45 phút ngày ngày 25/9/2025, Công an phường H mời lên làm việc, kiểm tra test nước tiểu thì phát hiện Nguyễn Trần Thế Xuân H dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 07/10/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Trần Thế Xuân H có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine.

* Tang vật tạm giữ:

- Toàn bộ vỏ bao gói mẫu B1 được niêm phong trong 01 túi niêm phong dán kín và dán băng keo bên ngoài, được niêm phong bởi hình dấu đỏ của Phòng K - Công an thành phố Đ, chuyển Phòng Chi cục Thi hành án dân sự khu vực 3 – Đà Nẵng bảo quản theo quy định.

- 01 que thử test ma túy đối với Nguyễn Trần Thế Xuân H đựng trong 01 bì thư được niêm phong, ký hiệu A1, lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

* Dân sự: Không.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSKV3 ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Trần Thế Xuân H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo quy định của Luật phòng chống ma tuý theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 814/QĐ-UBND ngày 26/8/2025 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đà Nẵng trong thời hạn 02 năm từ ngày 25/7/2025 đến ngày 25/7/2027. Nhưng ngày 23/9/2025 Nguyễn Trần Thế Xuân H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy loại Methampetamine tại bãi đá kè bờ trên đường N, phường T, thành phố Đà Nẵng.

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người nghiện ma tuý, đã được áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng thời gian quản lý sau cai nghiện được chính quyền địa phương nhiều lần giáo dục, nhắc nhở nhưng vẫn cố ý mua ma tuý để tiếp tục sử dụng. Điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém, lối sống buông thả, thiếu ý chí từ bỏ ma túy, tiềm ẩn nguy cơ cao tái nghiện và lôi kéo người khác tham gia sử dụng ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bản thân, làm gia tăng gánh nặng xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra để các bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Ngày 20/08/2024, bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định 276/QĐ-XPHC và ngày 15/11/2024, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng (từ ngày 25/10/2024) theo Quyết định số 92/2024/QĐ-TA. Ngoài ra bị cáo H còn có nhân thân xấu: Ngày 03/8/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 12 tháng theo Quyết định số 86/2017/QĐ-TA và ngày 18/9/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt 06 tháng tù theo Bản án số 66/2018/HS-ST.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo được hưởng để giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ vỏ bao gói mẫu B1 được niêm phong trong 01 túi niêm phong dán kín và dán băng keo bên ngoài, được niêm phong bởi hình dấu đỏ của Phòng K - Công an thành phố Đ.

Đối với 01 que thử test ma túy đối với Nguyễn Trần Thế Xuân H đựng trong 01 bì thư được niêm phong, ký hiệu A1, lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Trần Thế Xuân H qua mạng xã hội Facebook, chưa có cơ sở xác minh nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ điều tra xử lý sau.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phải chịu 200.000đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 11 năm 2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ vỏ bao gói mẫu B1 được niêm phong trong 01 túi niêm phong dán kín và dán băng keo bên ngoài, được niêm phong bởi hình dấu đỏ của Phòng K - Công an thành phố Đ.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên, Phòng thi hành án dân sự khu vực 3, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/01/2026).

Lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) que thử test ma túy đối với Nguyễn Trần Thế Xuân H đựng trong 01 bì thư được niêm phong, ký hiệu A1.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trần Thế Xuân H phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ