vanban.org

Bản án 36/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 20/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Đại T bị bắt đi chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 11 năm 2025 đến ngày 04 tháng 02 năm 2026. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đại T - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2026/HS-ST
Ngày: 20 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Nhật.

2. Ông Nguyễn Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2026/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 87/2026/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Đại T, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1997; nơi sinh tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân: 052097017376; nơi cư trú: Thôn P, xã T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đại T1, sinh năm 1976 và bà Lê Thị H, sinh năm 1976; có vợ là chị Võ Thị N, có 01 con sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bắt tạm giam từ ngày 13 tháng 11 năm 2025 đến ngày 04 tháng 02 năm 2026 được tại ngoại; có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Đại T1, sinh năm 1976; có mặt.

- Bà Lê Thị H, sinh năm 1976; có mặt.

- Chị Võ Thị N, sinh năm 1998; có mặt.

- Anh Nguyễn Đại K, sinh năm 1999; có mặt.

Đồng trú tại: Thôn P, xã T, tỉnh Gia Lai.

- Chị Phạm Hà Yến N, sinh năm 1999; có mặt.

Nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 2, phường Q, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì bản thân có sở thích sưu tầm súng nên đầu năm 2020, bị cáo Nguyễn Đại T đã lên mạng xã hội Facebook để tham gia hội nhóm mua bán súng hơi thì thấy trên nhóm có đăng bán 01 khẩu súng, tay cầm màu gỗ với giá 3.000.000 đồng. Bị cáo T liên hệ người bán đặt mua khẩu súng này và thống nhất sẽ trả tiền qua người giao hàng, vì đã mất tài khoản facebook nên bị cáo T không xác định được ai là người bán súng cho bị cáo T. Bị cáo T cung cấp cho bên bán súng số điện thoại của bị cáo T và địa chỉ nhận hàng là ngã tư C thuộc thôn, xã T, tỉnh Gia Lai để nhận súng. Sau đó có người gọi điện thoại bảo bị cáo T đến ngã tư Cầu Bà Di nhận hàng. Khi đến địa điểm thì có người trên xe khách đưa cho bị cáo T một thùng giấy catton được dán keo kín, bị cáo T trả cho người này số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo T mang thùng giấy catton này về nhà, mở ra thì thấy có 01 khẩu súng như hình đã đăng bán, bên trong có tặng kèm theo 01 hộp nhựa đựng rất nhiều viên đạn chì nhưng bị cáo T không kiểm đếm số lượng. Sau đó bị cáo T lấy quần áo cũ quấn kín khẩu súng, hộp đạn này và cất giấy trong phòng chụp hình của nhà mình.

Khoảng 15 ngày sau, bị cáo T tiếp tục vào trang hội nhóm mua súng hơi nêu trên thì thấy có người đăng bán mua 01 khẩu súng hơi loại “FX” với giá 3.500.000 đồng; bị cáo T đặt mua khẩu súng này và thống nhất sau khi nhận súng thì sẽ trả tiền qua người giao hàng. Tương tự như lần trước việc giao nhận súng và trả tiền cũng thông qua xe khách. Sau khi trả 3.500.000 đồng thì bị cáo T nhận 01 thùng giấy catton được dán keo kín. Bị cáo T mang thùng giấy catton này về nhà và mở ra thì thấy có 01 khẩu súng như hình đã đăng bán, không có đạn. Bị cáo T cất giấu khẩu súng này tại nhà mình.

Sau khi mua 02 khẩu súng và đạn nêu trên, bị cáo T đã cất tại nhà mình, thỉnh thoảng bị cáo T mang ra xem, ngoài ra bị cáo T không sử dụng súng vào mục đích khác. Đến ngày 30 tháng 8 năm 2025 bị cáo T vào hội nhóm trên trang Facebook đăng bán 02 khẩu súng hơi trên thì bị cơ quan Công an phát hiện thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 570/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

- 02 khẩu súng thu giữ trên là súng nén hơi, nén khí sử dụng bình nén hơi, nén khí (PCP) tự chế, bắn đạn chì cỡ 5,5 mm. Hiện tại 02 khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng.

- 287 viên đạn thu giữ trên là đạn chì cỡ 5,5 mm. Hiện tại các viên đạn còn sử dụng bắn được bằng 02 khẩu súng nêu trên và thuộc vũ khí quân dụng.

Tại bản Cáo trạng số 184/CT-VKSGL-P1 ngày 24 tháng 02 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Đại T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đại T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Đại T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu và sung vào công quỹ nhà nước điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, có số IMEI 1: 366734112157148, số IMEI 2: 356734112482470 được niêm phong trong bì thư có đóng dấu của Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Gia Lai có chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Anh M, Võ Thị Thuỳ T và Nguyễn Đại T. Đề nghị tuyên tịch thu và giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai tiêu huỷ 01 khẩu súng màu đen, dài 97,5cm, có gắn bình hơi phía dưới nòng súng, trên thân súng có gắn báng nhựa, rộng 14cm, có chữ “FX Tranformer” được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc Dũng, Dương Đức Tài; 01 khẩu súng có tay cầm màu gỗ, dài 82cm, có gắn bình hơi phía sau thân súng được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T; 250 viên đạn chì đường kính cỡ 5,5mm, màu xám, dài 80mm, có đầu hình cung được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo.

Bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đại T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định vì có sở thích sưu tầm súng nên vào đầu năm 2020, bị cáo Nguyễn Đại T đã 02 lần tìm mua 02 khẩu súng và đạn của một người không rõ nhân thân, lai lịch trên mạng xã hội Facebook với số tiền 6.500.000 đồng. Sau khi mua được 02 khẩu súng và đạn nêu trên, bị cáo T mang về nhà cất giấu. Đến ngày 30 tháng 8 năm 2025, bị cáo lên mạng xã hội để rao bán 02 khẩu súng thì bị cơ quan Công an phát hiện thu giữ.

Xét tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Đại T là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép là hành vi bị nghiêm cấm, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nhưng vì sở thích của cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 02 khẩu súng và đạn. Theo Kết luận giám định số 570/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận 02 khẩu súng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đại T là súng nén hơi, nén khí sử dụng bình nén hơi, nén khí (PCP) tự chế, bắn đạn chì cỡ 5,5 mm; hiện tại 02 khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng; 287 viên đạn thu giữ là đạn chì cỡ 5,5 mm; hiện tại các viên đạn còn sử dụng bắn được bằng 02 khẩu súng nêu trên và thuộc vũ khí quân dụng. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Đại T đã phạm vào tội“Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm quy định quản lý của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng; xâm phâm an toàn công cộng; gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo là người có nhân thân tốt.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, lẽ ra xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc nhưng xét thấy bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu thực hiện hành vi phạm tội; động cơ, mục đích của bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chỉ vì sở thích cá nhân nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” nhưng xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, có số IMEI 1: 366734112157148, số IMEI 2: 356734112482470 được niêm phong trong bì thư có đóng dấu của Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Gia Lai có chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Anh M, Võ Thị Thuỳ T và Nguyễn Đại T. Tuyên tịch thu và giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai tiêu huỷ 01 khẩu súng màu đen, dài 97,5cm, có gắn bình hơi phía dưới nòng súng, trên thân súng có gắn báng nhựa, rộng 14cm, có chữ “FX Tranformer” được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T; 01 khẩu súng có tay cầm màu gỗ, dài 82cm, có gắn bình hơi phía sau thân súng được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T; 250 viên đạn chì đường kính cỡ 5,5mm, màu xám, dài 80mm, có đầu hình cung được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T.

Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Đại T phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đại T còn khai bản thân sau khi mua súng về thì có mang ra bắn thử vài lần, tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo thì không thu được vỏ đạn, không xác định được bắn vào thời gian nào, ở đâu; đồng thời bị cáo khai nhận sau khi mua súng và đạn nhưng sau đó vì biết hành vi trên là vi phạm pháp luật nên bị cáo đăng lên mạng xã hội để bán lại nhưng không biết sẽ bán với số tiền bao nhiêu; bị cáo chưa bán được thì bị bắt nên không đủ căn cứ để xử lý bị cáo Nguyễn Đại T về hành vi mua bán, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Đối với ông Nguyễn Đại T1, bà Lê Thị H, anh Nguyễn Đại K, chị Võ Thị N là những người ở chung nhà cùng với bị cáo T, tuy nhiên những người này không biết việc bị cáo T đặt mua và tàng trữ súng, đạn trong nhà. Do đó Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai không có căn cứ để xử lý về tội tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng và tội không tố giác tội phạm đối với ông Nguyễn Đại T1, bà Lê Thị H, anh Nguyễn Đại K, chị Võ Thị N là có căn cứ. Đối với đối tượng bán 02 khẩu súng và đạn cho bị cáo Nguyễn Đại T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch do đó Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai tiếp tục truy tìm, xác minh xử lý sau là có căn cứ.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo so với đề nghị trên của Kiểm sát viên; các đề nghị khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ các điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Đại T bị bắt đi chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 11 năm 2025 đến ngày 04 tháng 02 năm 2026.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tuyên tịch thu và sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, có số IMEI 1: 366734112157148, số IMEI 2: 356734112482470 được niêm phong trong bì thư có đóng dấu của Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Gia Lai có chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Anh M, Võ Thị Thuỳ T và Nguyễn Đại T. Hiện vật chứng trên Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Gia Lai đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03 tháng 3 năm 2026 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Gia Lai.

3.2. Tuyên tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai tiêu huỷ 01 (Một) khẩu súng màu đen, dài 97,5cm, có gắn bình hơi phía dưới nòng súng, trên thân súng có gắn báng nhựa, rộng 14cm, có chữ “FX Tranformer” được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T; 01 (Một) khẩu súng có tay cầm màu gỗ, dài 82cm, có gắn bình hơi phía sau thân súng được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T; 250 (Hai trăm năm mươi) viên đạn chì đường kính cỡ 5,5mm, màu xám, dài 80mm, có đầu hình cung được niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 20/10/2025, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai và chữ ký, chữ viết họ tên của Nguyễn Ngọc D, Dương Đức T. Hiện vật chứng trên Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai đang tạm giữ theo biên bản giao nhận giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Đại đội kho vũ khí đạn 1 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đại T.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đại T phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 20 tháng 3 năm 2026).

Cỡ chữ